Thấu hiểu toàn bộ công việc kinh doanh của công ty bạn - 3
Hãy hồi tưởng về khoảng thời gian bạn còn đi học và nhớ về những người thầy giỏi nhất bạn từng có, những người dường như hiểu biết tất cả mọi thứ thuộc về chuyên môn của ông ta. Họ có cái gì đó mà tất cả những giáo viên khác còn thiếu sót: khả năng tóm tắt những ý tưởng phức tạp của một môn học, cho dù là môn tâm lý, kinh tế hay là hóa học, đến nỗi bạn có thể thật sự nắm bắt được từng chi tiết một. Những giáo viên khác có thể có kiến thức sâu rộng và phẩm chất tốt đẹp nhưng dường như họ không thể làm đầu óc bạn lóe lên tư tưởng nào cả. Thay vì làm cho một vấn đề phức tạp trở nên đơn giản, họ lại làm ngược lại họ làm nó phức tạp hơn và càng lúc càng khó hiểu.
Tôi đã từng sống trong thế giới kinh doanh hơn bốn mươi năm nay: bắt đầu là một đứa trẻ trong một gia đình buôn bán nhỏ ở Ấn Độ, làm kỹ sư tại Úc rồi đến Mỹ dạy ở hai trường Đại học Harvard Business và Kellogg School của Northwestern University và làm cố vấn cho các Tổng Giám đốc điều hành và hội đồng quản trị ở nhiều công ty lớn nhỏ khác nhau trên thế giới. Có một điều tôi lưu ý là những Tổng giám đốc điều hành hàng đầu, những người có công ty luôn sinh ra lợi nhuận từ năm này sang năm khác, cũng giống như những giáo viên giỏi nhất bạn từng học. Họ có thể giải quyết những vấn đề phức tạp và bí ẩn trong kinh doanh bằng cách tập trung vào những vấn đề cốt lõi. Họ dám cam đoan rằng tất cả nhân viên trong công ty, không phải chỉ có Ban Giám Đốc Điều Hành, hiểu được những vấn đề này. Bạn có thể nói họ có tính tư lợi ngay trong bản chất vì công ty và Tổng giám đốc điều hành sẽ thành công hơn khi mọi người hiểu công việc kinh doanh hoạt động như thế nào. Không chỉ có Tổng giám đốc điều hành hưởng lợi mà mọi sẽ cảm thấy gắn bó hơn với công việc và thỏa mãn với việc làm của họ. Một khi công ty phát triển, có nghĩa là cả hai lãnh vực bán ra (đạt tới đỉnh điểm) và lợi nhuận (trở thành vấn đề cốt lõi) tăng trưởng từ năm này sang năm kia, người ta sẽ có nhiều cơ hội để mở rộng doanh nghiệp và làm ra nhiều tiền của.
Khi tiếp cận với công việc kinh doanh, bạn sẽ thấy nó thật đơn giản. Có những quy luật kinh doanh mang tính toàn cầu có thể ứng dụng cho dù bạn là người bán trái cây ở sạp chợ hay đang điều hành một công ty được tạp chí Fortune xếp hạng top 500. Những nhà lãnh đạo doanh nghiệp thành công đều nắm vững được điều này. Họ có cái mà tôi gọi là khả năng kinh doanh nhạy bén _ khả năng nhận thức được một cơ cấu bán lẻ hay một đơn vị kinh doanh to lớn làm ra tiền của như thế nào? Bạn cũng thế, có thể hiểu được những vấn đề cơ bản về chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng vốn đầu tư, tăng trưởng và khách hàng. Bạn có thể phát triển khả năng kinh doanh nhạy bén của riêng bạn. Trong khi những ý tưởng này nghe có vẻ phức tạp nhưng thực ra chúng hết sức đơn giản. Hãy nhớ lại người thầy giỏi nhất đã từng dạy bạn môn hóa học. Một khi bạn đã hiểu nguyên tử được cấu thành từ proton, electron và notron, sau đó bạn có được kiến thức căn bản để giải quyết bất kỳ bài toán hóc búa nào liên quan đến môn hóa. Tôi cũng muốn cho bạn thấy trong kinh doanh cũng thế. Khi nắm bắt được những nguyên lý cơ bản, bạn có thể hiểu được những điều kiện để bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động.
Khi viết quyển sách này, tôi mong muốn gửi đến cho bạn kinh nghiệm quý giá tôi từng quan sát qua nhiều năm những nhà kinh doanh thành công suy nghĩ và làm việc như thế nào. Bạn sẽ thấy những điều cốt lõi mà họ đã đưa công ty và nhân viên của họ vượt lên vị trí đầu bảng của thế giới. Dĩ nhiên công việc kinh doanh có những mức độ khác biệt nhau nhưng một khi bạn đã nắm bắt được vấn đề trọng yếu, bạn sẽ có cơ sở để nhận thức công ty riêng của bạn.
Những Tổng giám đốc điều hành hàng đầu và những chủ tiệm bán lẻ có cùng một cách suy nghĩ. Họ hiểu được vấn đề tiền mặt của họ. Họ hiểu món hàng nào sinh ra lợi nhuận, món hàng nào không. Họ biết giữ món hàng nào lại, bán món nào đi (tốc độ đánh giá) và họ hiểu được khách hàng của họ cần gì. Quyển "Nghệ thuật lãnh đạo doanh nghiệp" giúp bạn nhận thức được những nguyên lý căn bản trong kinh doanh hoạt động như thế nào trong công ty. Khi bỏ ra vài giờ đọc nó, bạn đã bắt đầu tham gia vào chuyến hành trình này.
Ram Charan
Dallas, Texas
Tháng Giêng, 2001
NHỮNG THÀNH PHẦN NỐI KẾT VỚI NHAU NHƯ THẾ NÀO?
Những yếu tố tạo ra tiền của _ chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận trên tài sản và tăng trưởng _ tất cả có thể đo lường và đánh giá. Thế nhưng một số người với khả năng kinh doanh nhạy bén không chỉ nhớ về những từ này như thuật ngữ trong sách giáo khoa. Họ hiểu chúng với ý nghĩa thực tiễn, mối quan hệ giữa các yếu tố và dùng chúng để sáng tạo ra bức tranh mang tính trí tuệ. Những doanh nhân đúng nghĩa kết hợp các yếu tố ấy để có được nhận thức sâu sắc về quá trình kinh doanh tổng thể.
Lấy trường hợp chẩn đoán của một bác sĩ để so sánh cho đơn giản hơn. Bà bác sĩ đo nhịp tim, thân nhiệt, đếm số lượng hồng cầu... Từ cách đánh giá sơ bộ này, bà ta có thể suy luận được điều gì đang xảy ra trong cơ thể bạn. Tuy nhiên, cho dù có tiến hành bao nhiêu cuộc kiểm tra đi nữa một người chẩn đoán giỏi phải đánh giá được tình trạng sức khỏe nói chung. Liệu nó đang cải thiện hay là suy giảm? Người bác sĩ giỏi thậm chí có thể bảo vệ cuộc sống của bạn khi phát hiện cơ thể đang mắc phải một chứng bệnh nan y.
Khi thông báo con số 21% tăng trưởng thu nhập ở quý II của tập đoàn GE vào tháng bảy 2000, Jack Welch đã trích dẫn với báo chí là kết quả đạt được cho thấy công ty có đủ khả năng để thực hiện "mức độ tăng trưởng xếp hàng đầu bảng, lãi ròng tăng cao và chu kỳ tiền mặt mạnh". Bạn có thể thấy tư tưởng kinh doanh chủ đạo ở đây _ tiền mặt, lãi ròng và tăng trưởng. Lãi ròng hoạt động của GE tăng lên so với năm trước, doanh số bán ra tăng theo và công ty kiếm được 5,9 tỉ đô trong nửa năm đầu. Những yếu tố cơ bản xác định GE đã tiến hành tốt toàn bộ công việc kinh doanh.
Welch đã vận dụng tài tình mối quan hệ giữa chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận trên tài sản, tăng trưởng và khách hàng. Ông ta biết nếu năng suất của một công ty tiếp tục phát triển làm lãi ròng tăng lương và tiền mặt dồi dào. Khi lãi ròng và tốc độ quay vòng tăng trưởng, bạn có cơ hội chăm lo khách hàng tốt hơn và vì thế bạn có thể có thị phần lớn hơn và công ty phát triển.
Chúng ta lấy thêm một hình ảnh minh họa khác từ hồ sơ lưu trữ của công ty Ford Motor và bài viết của David L. Lewwis với nhan đề "Hình ảnh của Henry Ford trước mắt công chúng". Henry Ford có thừa trực giác về phương thức để toàn bộ doanh nghiệp có thể tạo ra tiền của. Không chỉ làm nên được những bước đột phá thần kỳ trong cải tiến kỹ thuật sản xuất, ông ta còn giảm giá thành một chiếc xe du lịch mỗi năm trong khoảng thời gian từ 1909 đến 1915 và đưa ra mức lương công nhật 5 đô.
Dường như Henry Ford hiểu giá thành thấp hơn và tiền lương cao hơn có mối tương quan lẫn nhau để tạo ra tiền của. Vào năm 1914, Ford chính thức thông báo công ty sẽ trả cho nhân công với mức lương ít nhất là 5 đô một ngày. Tiền lương đột biến tăng cao _ từ 2,34 đô _ và tiếp tục giữ ở mức đó trong suốt thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu và vào thời điểm mà mức lương ở các công ty sản xuất xe hơi khác còn thấp hơn một nửa giá ấy.
Tiền lương cao hơn tạo cho nhiều người có đủ tiền mua một chiếc xe ô tô. Trong một bài viết vào thập kỷ 50, một học giả người Pháp nhận định điều này như sau: "Với mức công nhật 5 đô, tất cả người làm thuê đều có thể trở thành khách hàng tiềm năng". Nhiều khách hàng hơn có nghĩa là có nhiều tiền của hơn, vì thế có nhiều cơ hội để làm giá thành thấp hơn. Giá thành thấp hơn khiến cho nhiều người có đủ khả năng mua xe. Yếu tố này thúc đẩy yếu tố kia tạo ra mức tăng trưởng cao của công ty.
Lại thêm một minh họa khác cho thấy khả năng nhạy bén trong kinh doanh của Henry Ford. Vào năm 1916, anh em nhà Dodge, những người sở hữu một số cổ phần trong công ty Ford tiến hành một vụ kiện tụng vì họ muốn có phần chia cao hơn. Trong suốt vụ kiện, luật sư của họ phản đối phương pháp điều hành công ty của Ford.
Các luật sư đặt vấn đề là cổ đông được hưởng lợi gì nếu Ford cứ tiếp tục thuê mướn quá đông nhân công với tiền lương cao, giảm giá bán để nhiều người đều có cơ hội mua xe với giá rẻ.
Không hề bị sốc trước lời mô tả tính cách điều hành kinh doanh của mình từ phía luật sư, Henry Ford nhẹ nhàng đáp lại: "Nếu bạn làm được điều này, tiền tiếp tục rơi vào túi bạn và bạn không thể từ chối nó". Ông ta biết chắc rằng công ty Ford Motor có một công thức thành công. Những yếu tố làm ra tiền của _ chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận, tăng trưởng và khách hàng _ và mối liên hệ giữa chúng với nhau tạo ra lợi thế kinh doanh mạnh có thể tiếp tục làm ra tiền của.
Henry Ford có ý tưởng ngộ nghĩnh nhưng hiệu quả về quá trình kinh doanh. Bạn cũng sẽ có được cái cảm giác vui thú, năng động ấy nếu bạn bắt đầu ứng dụng những quy luật cơ bản trong kinh doanh cho công ty bạn. Nhưng trước hết bạn phải tập hợp lại một số thông tin "nền tảng" cần thiết.
Hãy bắt đầu với những nguyên lý cơ bản của quá trình làm ra tiền của rồi cố gắng nhận thức xem chúng hoạt động như thế nào. Nhìn công ty của chính mình qua lăng kính của anh chàng bán hàng ven đường. Có thể bạn biết nhiều thứ về lịch sử hình thành và phát triển của công ty _ thí dụ như loại mặt hàng và dịch vụ nó bán ra, bao nhiêu cơ sở sản xuất.
Trong hầu hết các công ty, chúng thường có khái niệm chung nhất. Anh chàng bán hàng trên hè phố cũng biết những thứ đại loại như thế _ thí dụ như người cung cấp hàng cho anh ta.
Nhưng giờ đây có sự khác biệt giữa anh chàng bán hàng ven đường và doanh nhân điều hành các tổng công ty. Liệu xem bạn có thể trả lời được những câu hỏi sau đây về công ty mình? Rồi sau đó tôi sẽ cho bạn thấy số liệu của hai công ty lớn, Ford Automotive (một phần của Ford Motor chuyên bán xe ô tô và xe tải) và Gateway Computer.
- Doanh số bán ra của công ty bạn trong suốt năm ngoái là bao nhiêu?
Doanh số bán ra của Ford Automotive vào năm 1999 là 137 tỉ đô trên toàn thế giới, một chỉ số cao ở mọi thời đại.
Doanh số bán ra của Gateway Computer vào năm 1999 là 8,6 tỉ đô, con số cao nhất và so với năm trước đó hơn 1,2 tỉ đô.
- Công ty bạn có đang tăng trưởng hay không? Hay nó đang dừng lại và suy giảm? Liệu hình ảnh tăng trưởng có khả quan không?
Doanh số bán ra của Ford tăng 15% từ 1998 đến 1999, giảm 3% từ 1997 đến 1998. Trước thời gian ấy, doanh số bán ra tăng ở mức 5% hàng năm, một phần nhờ sản phẩm hỗn hợp bao gồm những loại xe giá thành cao hơn.
Doanh số bán ra của Gateway tăng lên ổn định trong suốt thập kỷ qua. Riêng từ 1998 đến 1999, tăng 15,7%.
- Lãi ròng của công ty bạn là bao nhiêu? Nó chựng lại, tăng lên hay giảm đi?
Lãi ròng (sau thuế) của Ford Automotive là 4,2% vào năm 1999. Đây là con số con nhất tính từ năm 1988.
Lãi ròng (sau thuế) của Gateway là 4,9% cao hơn một ít so năm trước 4,6%. (Con số 4% có nhắc bạn nhớ điều gì hay không? _ một thí dụ về Wal-Mart hay một cửa hàng tạp phẩm? Về cơ bản mà nói, công ty máy vi tính không khác biệt gì mấy với cửa hàng tạp phẩm. Cả hai loại hình kinh doanh đều mang tính cạnh tranh và cần bán nhanh sản phẩm sẽ sớm lỗi thời.)
- Nếu so sánh với các đối thủ, lãi ròng của công ty bạn như thế nào? Còn so sánh với các ngành nghề khác bạn thấy nó có khả quan không?
Lãi ròng của Ford cao hơn CM và cả Toyota vào cuối năm 1999.
Lãi ròng của Gateway cao hơn Compaq (1,5%) nhưng thấp hơn Dell (7,4%).
- Bạn biết gì về tốc độ quay vòng hàng tồn kho của công ty mình? Tốc độ quay vòng tài sản?
Tốc độ hàng tồn kho của Ford vào khoảng 21 nhưng con số này không bao gồm lượng xe trên đường vận chuyển đến các đại lý và nằm trong bãi xe của đại lý. Kết hợp tất cả những yếu tố này, tốc độ quay vòng hàng tồn kho có thể giảm xuống rất nhiều. Tốc độ quay vòng tài sản của Ford khác biệt rất nhiều so với tốc độ quay vòng hàng tồn kho. Bạn nên lưu ý Ford đầu tư vào nhiều nhà máy sản xuất, tòa nhà, trang thiết bị, dụng cụ và những khoản tiền có thể thu hồi. Bên cạnh việc đầu tư hàng tồn kho, tốc độ quay vòng hàng tồn thay đổi từ 21 xuống 1,3 tính đến cuối năm 1999. Tốc độ quay vòng tài sản của Ford là 1,3.
Tốc độ quay vòng hàng tồn kho của Gateway thật khả quan là 45. Tốc độ quay vòng tài sản _ lấy doanh số bán ra đem chia cho tổng số tài sản, không chỉ tính riêng hàng tồn kho, là 12,6.
- Lợi nhuận từ tài sản của công ty bạn là bao nhiêu?
Nếu biết lãi ròng và tốc độ quay vòng, bạn có thể tính ra lợi nhuận từ tài sản theo công thức R = M x V.
Lợi nhuận từ tài sản của Ford R = lãi ròng sau thuế 4,2% X tốc độ quay vòng tài sản 1,3.
Với Ford, R chỉ vào khoảng 5,5%, chỉ số không cao lắm trong việc quản lý doanh nghiệp.
**** Còn trường hợp của Gateway:
Lợi nhuận từ tài sản của Gateway = lãi ròng sau thuế 4,9% X tốc độ quay vòng tài sản 12,6.
Lợi nhuận từ tài sản R là 61,7%. Một con số làm đám cổ đông phấn khởi.
- Chu kỳ tiền mặt của công ty bạn đang tăng trưởng hay giảm sút? Tại sao nó lại đi theo hướng ấy?
Ford sở hữu 23,6 tỉ đô tiền mặt vào cuối năm 1999 - cùng con số đạt được vào cuối năm 1998. Nhưng Ford mua Volvo và đầu tư vào một lĩnh vực tăng trưởng khác. Ford tạo ra tiền mặt như thế nào? Công ty đã nghiên cứu kỹ lượng các lĩnh vực đầu tư về tài sản cố định và kinh doanh để làm giảm hàng tồn kho. Ford tiếp tục có thể xem là cỗ máy thực sự tạo ra tiền mặt.
Gateway sở hữu 731 triệu đô tiền mặt trong năm 1999, thấp hơn một ít so với năm 1998. Nó cũng được xem là cỗ máy thực sự tạo ra tiền mặt.
- Trong cuộc cạnh tranh, công ty bạn giành được thắng lợi hay thất bại?
Ford vẫn đứng vững trong thị phần ở Bắc Mỹ.
Thị phần của Gateway đang tiếp tục phát triển và được người tiêu dùng ưa chuộng. Dell và Compaq tiếp tục thống trị toàn bộ thị trường máy vi tính cá nhân còn thị phần của IBM đang bị xói mòn.
Nếu có thể trả lời được những câu hỏi này cho công ty mình, bạn đang dùng thứ ngôn ngữ kinh doanh mang tính toàn cầu. Bạn đang có bức tranh toàn cảnh về kinh doanh của công ty, giống hệt như những gì người chủ tiệm đã có. Và nó sẽ không phải cần quá nhiều con số để mô tả _ chỉ là doanh số bán ra, lãi ròng, toàn bộ số hàng tổn kho, tài sản và tiền mặt. Bạn có thể rút chúng từ bản báo cáo hàng năm của công ty. Bạn cũng không cần sự chính xác tuyệt đối mới hiểu được thực tế kinh doanh của công ty mình.
**** Chúng ta cùng tóm tắt lại những nguyên lý cơ bản của Ford:
- Doanh số bán ra 137 tỉ đô vào năm 1999: tăng trưởng từ 1998 đến 1999 nhưng giảm xuống từ 1997 đến 1998.
- Tiếp tục vững mạnh trong những thị trường quan trọng.
- Lãi ròng sau thuế 4,2%.
- Tốc độ quay vòng tài sản 1,3.
- Rất ít hàng tồn kho (nếu tính số lượng xe trên đường giao cho đại lý và đậu ở bãi của đại lý).
- Tạo ra tiền mặt.
**** Còn đây là bản tóm tắt của Gateway:
- Doanh số bán ra 8,6 tỉ đô vào năm 1999, tăng hơn nhiều so với 1998.
- Thị phần đang tăng trưởng.
- Lãi ròng sau thuế 4,9%.
- Tốc độ quay vòng tài sản 12,6.
- Tốc độ quay vòng hàng tồn kho rất cao 45.
- Tạo ra tiền mặt.
Giả sử bạn đang làm việc cho Ford và biết công ty đang là cỗ máy tạo ra tiền mặt, lãi ròng rất tốt đủ sức cạnh tranh với các đối thủ nhưng lại thấp so với các ngành nghề khác, doanh số bán ra có tăng trưởng nhưng không tốt như bạn mong muốn và tốc độ quay vòng thấp, thế bạn sẽ làm gì? Liệu bạn có muốn biết nên tập trung vào đâu để cải thiện? Bạn thấy có cần phải cảnh giác không? Bạn có thể quan sát theo nhiều hướng để cải thiện nhu cầu của khách hàng và làm tăng năng suất. Bạn cũng có thể tập trung vào việc phát triển những sản phẩm mới hấp dẫn và làm việc cật lực để đưa chúng ra thị trường sớm hơn. Và bạn cũng có thể cố gắng thêm nữa để đảm bảo những khoản đầu tư to lớn vào những ngành nghề kinh doanh có lãi.
Còn giờ đây nếu bạn đang làm việc cho Gateway. Lãi ròng của Gateway không cao hơn Ford nhưng tốc độ quay vòng hàng tồn kho thật là tuyệt vời. Lợi nhuận từ tài sản quá lớn.
Công ty đang phát triển với thị phần tăng trưởng nhưng đem so sánh với Dell và Compaq nó vẫn còn nhỏ. Thị phần phát triển có thể là nguồn hỗ trợ mạnh trong việc đối đầu với hai công ty khổng lồ ấy. Liệu bạn có tìm kiếm những phương thức khác nhau để phát triển thị phần thông qua những sản phẩm và dịch vụ mới? Liệu bức tranh toàn cảnh về kinh doanh của Gateway có làm bạn quan tâm?
Khi cung cấp một số câu hỏi, chúng tôi muốn bạn nhận thức hơn về công ty mình. Hãy yêu cầu phòng kế hoạch đầu tư về thông tin để bạn trả lời những câu hỏi ấy. Những số liệu này ngày nay thường có sẵn trong website của hầu hết các công ty. Những nhà phân tích chứng khoán về các công ty như Merrill Lynch cũng có những thông tin này. Còn với công ty nhà nước, bạn có thể thấy chúng trên bản báo cáo hàng năm, có sẵn trực tuyến ở hiệp hội trao đổi chứng khoán Hoa Kỳ (www.sec.gov/edaux/searchs.htm).
Những thông tin này không có gì là tuyệt mật. Khi quan tâm đến chúng, bạn đã thể hiện với ban lãnh đạo lòng khao khát cải thiện chức năng bộ phận của bạn nói riêng và của cải doanh nghiệp nói chung.
Trong khoảng thời gian tôi làm việc cho các doanh nghiệp tư nhân (những công ty không có cổ đông), ban lãnh đạo vẫn thường mong muốn chia sẻ những thông tin này với toàn thể nhân viên nhưng họ vẫn cứ tin rằng người ta không hiểu chúng và không quan tâm đến chúng. Hãy cho ban lãnh đạo thấy lòng khao khát của bạn và chắc chắn bạn sẽ nhận được những phản hồi hoàn toàn tích cực. Quyển sách này cũng có thể giúp họ xua tan đi những hoài nghi trước đây.
Bạn có thể thuyết phục mấy ông chủ của bạn rằng thứ ngôn ngữ kinh doanh mang tính toàn cầu không chỉ thuộc về riêng mấy nhân viên điều hành cao cấp. Chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận từ tài sản, tăng trưởng và khách hàng có thể là một phần vốn từ của bất kỳ ai đó. Hãy nhắc nhở với họ rằng khi nhận thức được điều gì thực sự đang diễn ra trong doanh nghiệp, những nhân viên bình thường đều có thể đóng góp nhiều hơn nữa và có thể ứng dụng khả năng kinh doanh nhạy bén để thúc đẩy tăng trưởng.
Những yếu tố tạo ra tiền của _ chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận trên tài sản và tăng trưởng _ tất cả có thể đo lường và đánh giá. Thế nhưng một số người với khả năng kinh doanh nhạy bén không chỉ nhớ về những từ này như thuật ngữ trong sách giáo khoa. Họ hiểu chúng với ý nghĩa thực tiễn, mối quan hệ giữa các yếu tố và dùng chúng để sáng tạo ra bức tranh mang tính trí tuệ. Những doanh nhân đúng nghĩa kết hợp các yếu tố ấy để có được nhận thức sâu sắc về quá trình kinh doanh tổng thể.
Lấy trường hợp chẩn đoán của một bác sĩ để so sánh cho đơn giản hơn. Bà bác sĩ đo nhịp tim, thân nhiệt, đếm số lượng hồng cầu... Từ cách đánh giá sơ bộ này, bà ta có thể suy luận được điều gì đang xảy ra trong cơ thể bạn. Tuy nhiên, cho dù có tiến hành bao nhiêu cuộc kiểm tra đi nữa một người chẩn đoán giỏi phải đánh giá được tình trạng sức khỏe nói chung. Liệu nó đang cải thiện hay là suy giảm? Người bác sĩ giỏi thậm chí có thể bảo vệ cuộc sống của bạn khi phát hiện cơ thể đang mắc phải một chứng bệnh nan y.
Khi thông báo con số 21% tăng trưởng thu nhập ở quý II của tập đoàn GE vào tháng bảy 2000, Jack Welch đã trích dẫn với báo chí là kết quả đạt được cho thấy công ty có đủ khả năng để thực hiện "mức độ tăng trưởng xếp hàng đầu bảng, lãi ròng tăng cao và chu kỳ tiền mặt mạnh". Bạn có thể thấy tư tưởng kinh doanh chủ đạo ở đây _ tiền mặt, lãi ròng và tăng trưởng. Lãi ròng hoạt động của GE tăng lên so với năm trước, doanh số bán ra tăng theo và công ty kiếm được 5,9 tỉ đô trong nửa năm đầu. Những yếu tố cơ bản xác định GE đã tiến hành tốt toàn bộ công việc kinh doanh.
Welch đã vận dụng tài tình mối quan hệ giữa chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận trên tài sản, tăng trưởng và khách hàng. Ông ta biết nếu năng suất của một công ty tiếp tục phát triển làm lãi ròng tăng lương và tiền mặt dồi dào. Khi lãi ròng và tốc độ quay vòng tăng trưởng, bạn có cơ hội chăm lo khách hàng tốt hơn và vì thế bạn có thể có thị phần lớn hơn và công ty phát triển.
Chúng ta lấy thêm một hình ảnh minh họa khác từ hồ sơ lưu trữ của công ty Ford Motor và bài viết của David L. Lewwis với nhan đề "Hình ảnh của Henry Ford trước mắt công chúng". Henry Ford có thừa trực giác về phương thức để toàn bộ doanh nghiệp có thể tạo ra tiền của. Không chỉ làm nên được những bước đột phá thần kỳ trong cải tiến kỹ thuật sản xuất, ông ta còn giảm giá thành một chiếc xe du lịch mỗi năm trong khoảng thời gian từ 1909 đến 1915 và đưa ra mức lương công nhật 5 đô.
Dường như Henry Ford hiểu giá thành thấp hơn và tiền lương cao hơn có mối tương quan lẫn nhau để tạo ra tiền của. Vào năm 1914, Ford chính thức thông báo công ty sẽ trả cho nhân công với mức lương ít nhất là 5 đô một ngày. Tiền lương đột biến tăng cao _ từ 2,34 đô _ và tiếp tục giữ ở mức đó trong suốt thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu và vào thời điểm mà mức lương ở các công ty sản xuất xe hơi khác còn thấp hơn một nửa giá ấy.
Tiền lương cao hơn tạo cho nhiều người có đủ tiền mua một chiếc xe ô tô. Trong một bài viết vào thập kỷ 50, một học giả người Pháp nhận định điều này như sau: "Với mức công nhật 5 đô, tất cả người làm thuê đều có thể trở thành khách hàng tiềm năng". Nhiều khách hàng hơn có nghĩa là có nhiều tiền của hơn, vì thế có nhiều cơ hội để làm giá thành thấp hơn. Giá thành thấp hơn khiến cho nhiều người có đủ khả năng mua xe. Yếu tố này thúc đẩy yếu tố kia tạo ra mức tăng trưởng cao của công ty.
Lại thêm một minh họa khác cho thấy khả năng nhạy bén trong kinh doanh của Henry Ford. Vào năm 1916, anh em nhà Dodge, những người sở hữu một số cổ phần trong công ty Ford tiến hành một vụ kiện tụng vì họ muốn có phần chia cao hơn. Trong suốt vụ kiện, luật sư của họ phản đối phương pháp điều hành công ty của Ford.
Các luật sư đặt vấn đề là cổ đông được hưởng lợi gì nếu Ford cứ tiếp tục thuê mướn quá đông nhân công với tiền lương cao, giảm giá bán để nhiều người đều có cơ hội mua xe với giá rẻ.
Không hề bị sốc trước lời mô tả tính cách điều hành kinh doanh của mình từ phía luật sư, Henry Ford nhẹ nhàng đáp lại: "Nếu bạn làm được điều này, tiền tiếp tục rơi vào túi bạn và bạn không thể từ chối nó". Ông ta biết chắc rằng công ty Ford Motor có một công thức thành công. Những yếu tố làm ra tiền của _ chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận, tăng trưởng và khách hàng _ và mối liên hệ giữa chúng với nhau tạo ra lợi thế kinh doanh mạnh có thể tiếp tục làm ra tiền của.
Henry Ford có ý tưởng ngộ nghĩnh nhưng hiệu quả về quá trình kinh doanh. Bạn cũng sẽ có được cái cảm giác vui thú, năng động ấy nếu bạn bắt đầu ứng dụng những quy luật cơ bản trong kinh doanh cho công ty bạn. Nhưng trước hết bạn phải tập hợp lại một số thông tin "nền tảng" cần thiết.
Hãy bắt đầu với những nguyên lý cơ bản của quá trình làm ra tiền của rồi cố gắng nhận thức xem chúng hoạt động như thế nào. Nhìn công ty của chính mình qua lăng kính của anh chàng bán hàng ven đường. Có thể bạn biết nhiều thứ về lịch sử hình thành và phát triển của công ty _ thí dụ như loại mặt hàng và dịch vụ nó bán ra, bao nhiêu cơ sở sản xuất.
Trong hầu hết các công ty, chúng thường có khái niệm chung nhất. Anh chàng bán hàng trên hè phố cũng biết những thứ đại loại như thế _ thí dụ như người cung cấp hàng cho anh ta.
Nhưng giờ đây có sự khác biệt giữa anh chàng bán hàng ven đường và doanh nhân điều hành các tổng công ty. Liệu xem bạn có thể trả lời được những câu hỏi sau đây về công ty mình? Rồi sau đó tôi sẽ cho bạn thấy số liệu của hai công ty lớn, Ford Automotive (một phần của Ford Motor chuyên bán xe ô tô và xe tải) và Gateway Computer.
- Doanh số bán ra của công ty bạn trong suốt năm ngoái là bao nhiêu?
Doanh số bán ra của Ford Automotive vào năm 1999 là 137 tỉ đô trên toàn thế giới, một chỉ số cao ở mọi thời đại.
Doanh số bán ra của Gateway Computer vào năm 1999 là 8,6 tỉ đô, con số cao nhất và so với năm trước đó hơn 1,2 tỉ đô.
- Công ty bạn có đang tăng trưởng hay không? Hay nó đang dừng lại và suy giảm? Liệu hình ảnh tăng trưởng có khả quan không?
Doanh số bán ra của Ford tăng 15% từ 1998 đến 1999, giảm 3% từ 1997 đến 1998. Trước thời gian ấy, doanh số bán ra tăng ở mức 5% hàng năm, một phần nhờ sản phẩm hỗn hợp bao gồm những loại xe giá thành cao hơn.
Doanh số bán ra của Gateway tăng lên ổn định trong suốt thập kỷ qua. Riêng từ 1998 đến 1999, tăng 15,7%.
- Lãi ròng của công ty bạn là bao nhiêu? Nó chựng lại, tăng lên hay giảm đi?
Lãi ròng (sau thuế) của Ford Automotive là 4,2% vào năm 1999. Đây là con số con nhất tính từ năm 1988.
Lãi ròng (sau thuế) của Gateway là 4,9% cao hơn một ít so năm trước 4,6%. (Con số 4% có nhắc bạn nhớ điều gì hay không? _ một thí dụ về Wal-Mart hay một cửa hàng tạp phẩm? Về cơ bản mà nói, công ty máy vi tính không khác biệt gì mấy với cửa hàng tạp phẩm. Cả hai loại hình kinh doanh đều mang tính cạnh tranh và cần bán nhanh sản phẩm sẽ sớm lỗi thời.)
- Nếu so sánh với các đối thủ, lãi ròng của công ty bạn như thế nào? Còn so sánh với các ngành nghề khác bạn thấy nó có khả quan không?
Lãi ròng của Ford cao hơn CM và cả Toyota vào cuối năm 1999.
Lãi ròng của Gateway cao hơn Compaq (1,5%) nhưng thấp hơn Dell (7,4%).
- Bạn biết gì về tốc độ quay vòng hàng tồn kho của công ty mình? Tốc độ quay vòng tài sản?
Tốc độ hàng tồn kho của Ford vào khoảng 21 nhưng con số này không bao gồm lượng xe trên đường vận chuyển đến các đại lý và nằm trong bãi xe của đại lý. Kết hợp tất cả những yếu tố này, tốc độ quay vòng hàng tồn kho có thể giảm xuống rất nhiều. Tốc độ quay vòng tài sản của Ford khác biệt rất nhiều so với tốc độ quay vòng hàng tồn kho. Bạn nên lưu ý Ford đầu tư vào nhiều nhà máy sản xuất, tòa nhà, trang thiết bị, dụng cụ và những khoản tiền có thể thu hồi. Bên cạnh việc đầu tư hàng tồn kho, tốc độ quay vòng hàng tồn thay đổi từ 21 xuống 1,3 tính đến cuối năm 1999. Tốc độ quay vòng tài sản của Ford là 1,3.
Tốc độ quay vòng hàng tồn kho của Gateway thật khả quan là 45. Tốc độ quay vòng tài sản _ lấy doanh số bán ra đem chia cho tổng số tài sản, không chỉ tính riêng hàng tồn kho, là 12,6.
- Lợi nhuận từ tài sản của công ty bạn là bao nhiêu?
Nếu biết lãi ròng và tốc độ quay vòng, bạn có thể tính ra lợi nhuận từ tài sản theo công thức R = M x V.
Lợi nhuận từ tài sản của Ford R = lãi ròng sau thuế 4,2% X tốc độ quay vòng tài sản 1,3.
Với Ford, R chỉ vào khoảng 5,5%, chỉ số không cao lắm trong việc quản lý doanh nghiệp.
**** Còn trường hợp của Gateway:
Lợi nhuận từ tài sản của Gateway = lãi ròng sau thuế 4,9% X tốc độ quay vòng tài sản 12,6.
Lợi nhuận từ tài sản R là 61,7%. Một con số làm đám cổ đông phấn khởi.
- Chu kỳ tiền mặt của công ty bạn đang tăng trưởng hay giảm sút? Tại sao nó lại đi theo hướng ấy?
Ford sở hữu 23,6 tỉ đô tiền mặt vào cuối năm 1999 - cùng con số đạt được vào cuối năm 1998. Nhưng Ford mua Volvo và đầu tư vào một lĩnh vực tăng trưởng khác. Ford tạo ra tiền mặt như thế nào? Công ty đã nghiên cứu kỹ lượng các lĩnh vực đầu tư về tài sản cố định và kinh doanh để làm giảm hàng tồn kho. Ford tiếp tục có thể xem là cỗ máy thực sự tạo ra tiền mặt.
Gateway sở hữu 731 triệu đô tiền mặt trong năm 1999, thấp hơn một ít so với năm 1998. Nó cũng được xem là cỗ máy thực sự tạo ra tiền mặt.
- Trong cuộc cạnh tranh, công ty bạn giành được thắng lợi hay thất bại?
Ford vẫn đứng vững trong thị phần ở Bắc Mỹ.
Thị phần của Gateway đang tiếp tục phát triển và được người tiêu dùng ưa chuộng. Dell và Compaq tiếp tục thống trị toàn bộ thị trường máy vi tính cá nhân còn thị phần của IBM đang bị xói mòn.
Nếu có thể trả lời được những câu hỏi này cho công ty mình, bạn đang dùng thứ ngôn ngữ kinh doanh mang tính toàn cầu. Bạn đang có bức tranh toàn cảnh về kinh doanh của công ty, giống hệt như những gì người chủ tiệm đã có. Và nó sẽ không phải cần quá nhiều con số để mô tả _ chỉ là doanh số bán ra, lãi ròng, toàn bộ số hàng tổn kho, tài sản và tiền mặt. Bạn có thể rút chúng từ bản báo cáo hàng năm của công ty. Bạn cũng không cần sự chính xác tuyệt đối mới hiểu được thực tế kinh doanh của công ty mình.
**** Chúng ta cùng tóm tắt lại những nguyên lý cơ bản của Ford:
- Doanh số bán ra 137 tỉ đô vào năm 1999: tăng trưởng từ 1998 đến 1999 nhưng giảm xuống từ 1997 đến 1998.
- Tiếp tục vững mạnh trong những thị trường quan trọng.
- Lãi ròng sau thuế 4,2%.
- Tốc độ quay vòng tài sản 1,3.
- Rất ít hàng tồn kho (nếu tính số lượng xe trên đường giao cho đại lý và đậu ở bãi của đại lý).
- Tạo ra tiền mặt.
**** Còn đây là bản tóm tắt của Gateway:
- Doanh số bán ra 8,6 tỉ đô vào năm 1999, tăng hơn nhiều so với 1998.
- Thị phần đang tăng trưởng.
- Lãi ròng sau thuế 4,9%.
- Tốc độ quay vòng tài sản 12,6.
- Tốc độ quay vòng hàng tồn kho rất cao 45.
- Tạo ra tiền mặt.
Giả sử bạn đang làm việc cho Ford và biết công ty đang là cỗ máy tạo ra tiền mặt, lãi ròng rất tốt đủ sức cạnh tranh với các đối thủ nhưng lại thấp so với các ngành nghề khác, doanh số bán ra có tăng trưởng nhưng không tốt như bạn mong muốn và tốc độ quay vòng thấp, thế bạn sẽ làm gì? Liệu bạn có muốn biết nên tập trung vào đâu để cải thiện? Bạn thấy có cần phải cảnh giác không? Bạn có thể quan sát theo nhiều hướng để cải thiện nhu cầu của khách hàng và làm tăng năng suất. Bạn cũng có thể tập trung vào việc phát triển những sản phẩm mới hấp dẫn và làm việc cật lực để đưa chúng ra thị trường sớm hơn. Và bạn cũng có thể cố gắng thêm nữa để đảm bảo những khoản đầu tư to lớn vào những ngành nghề kinh doanh có lãi.
Còn giờ đây nếu bạn đang làm việc cho Gateway. Lãi ròng của Gateway không cao hơn Ford nhưng tốc độ quay vòng hàng tồn kho thật là tuyệt vời. Lợi nhuận từ tài sản quá lớn.
Công ty đang phát triển với thị phần tăng trưởng nhưng đem so sánh với Dell và Compaq nó vẫn còn nhỏ. Thị phần phát triển có thể là nguồn hỗ trợ mạnh trong việc đối đầu với hai công ty khổng lồ ấy. Liệu bạn có tìm kiếm những phương thức khác nhau để phát triển thị phần thông qua những sản phẩm và dịch vụ mới? Liệu bức tranh toàn cảnh về kinh doanh của Gateway có làm bạn quan tâm?
Khi cung cấp một số câu hỏi, chúng tôi muốn bạn nhận thức hơn về công ty mình. Hãy yêu cầu phòng kế hoạch đầu tư về thông tin để bạn trả lời những câu hỏi ấy. Những số liệu này ngày nay thường có sẵn trong website của hầu hết các công ty. Những nhà phân tích chứng khoán về các công ty như Merrill Lynch cũng có những thông tin này. Còn với công ty nhà nước, bạn có thể thấy chúng trên bản báo cáo hàng năm, có sẵn trực tuyến ở hiệp hội trao đổi chứng khoán Hoa Kỳ (www.sec.gov/edaux/searchs.htm).
Những thông tin này không có gì là tuyệt mật. Khi quan tâm đến chúng, bạn đã thể hiện với ban lãnh đạo lòng khao khát cải thiện chức năng bộ phận của bạn nói riêng và của cải doanh nghiệp nói chung.
Trong khoảng thời gian tôi làm việc cho các doanh nghiệp tư nhân (những công ty không có cổ đông), ban lãnh đạo vẫn thường mong muốn chia sẻ những thông tin này với toàn thể nhân viên nhưng họ vẫn cứ tin rằng người ta không hiểu chúng và không quan tâm đến chúng. Hãy cho ban lãnh đạo thấy lòng khao khát của bạn và chắc chắn bạn sẽ nhận được những phản hồi hoàn toàn tích cực. Quyển sách này cũng có thể giúp họ xua tan đi những hoài nghi trước đây.
Bạn có thể thuyết phục mấy ông chủ của bạn rằng thứ ngôn ngữ kinh doanh mang tính toàn cầu không chỉ thuộc về riêng mấy nhân viên điều hành cao cấp. Chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận từ tài sản, tăng trưởng và khách hàng có thể là một phần vốn từ của bất kỳ ai đó. Hãy nhắc nhở với họ rằng khi nhận thức được điều gì thực sự đang diễn ra trong doanh nghiệp, những nhân viên bình thường đều có thể đóng góp nhiều hơn nữa và có thể ứng dụng khả năng kinh doanh nhạy bén để thúc đẩy tăng trưởng.
(08) 355 00 040 - (08) 355 00 041 - (08) 355 00 042 - (08) 355 00 194 - (08) 355 00 195 - (08) 355 00 196
(08) 351 58 466 - (08) 355 00 773