Tài sản dồi dào tốt hơn là làm ra tiền của - 5
Hãy hồi tưởng về khoảng thời gian bạn còn đi học và nhớ về những người thầy giỏi nhất bạn từng có, những người dường như hiểu biết tất cả mọi thứ thuộc về chuyên môn của ông ta. Họ có cái gì đó mà tất cả những giáo viên khác còn thiếu sót: khả năng tóm tắt những ý tưởng phức tạp của một môn học, cho dù là môn tâm lý, kinh tế hay là hóa học, đến nỗi bạn có thể thật sự nắm bắt được từng chi tiết một. Những giáo viên khác có thể có kiến thức sâu rộng và phẩm chất tốt đẹp nhưng dường như họ không thể làm đầu óc bạn lóe lên tư tưởng nào cả. Thay vì làm cho một vấn đề phức tạp trở nên đơn giản, họ lại làm ngược lại họ làm nó phức tạp hơn và càng lúc càng khó hiểu.
Tôi đã từng sống trong thế giới kinh doanh hơn bốn mươi năm nay: bắt đầu là một đứa trẻ trong một gia đình buôn bán nhỏ ở Ấn Độ, làm kỹ sư tại Úc rồi đến Mỹ dạy ở hai trường Đại học Harvard Business và Kellogg School của Northwestern University và làm cố vấn cho các Tổng Giám đốc điều hành và hội đồng quản trị ở nhiều công ty lớn nhỏ khác nhau trên thế giới. Có một điều tôi lưu ý là những Tổng giám đốc điều hành hàng đầu, những người có công ty luôn sinh ra lợi nhuận từ năm này sang năm khác, cũng giống như những giáo viên giỏi nhất bạn từng học. Họ có thể giải quyết những vấn đề phức tạp và bí ẩn trong kinh doanh bằng cách tập trung vào những vấn đề cốt lõi. Họ dám cam đoan rằng tất cả nhân viên trong công ty, không phải chỉ có Ban Giám Đốc Điều Hành, hiểu được những vấn đề này. Bạn có thể nói họ có tính tư lợi ngay trong bản chất vì công ty và Tổng giám đốc điều hành sẽ thành công hơn khi mọi người hiểu công việc kinh doanh hoạt động như thế nào. Không chỉ có Tổng giám đốc điều hành hưởng lợi mà mọi sẽ cảm thấy gắn bó hơn với công việc và thỏa mãn với việc làm của họ. Một khi công ty phát triển, có nghĩa là cả hai lãnh vực bán ra (đạt tới đỉnh điểm) và lợi nhuận (trở thành vấn đề cốt lõi) tăng trưởng từ năm này sang năm kia, người ta sẽ có nhiều cơ hội để mở rộng doanh nghiệp và làm ra nhiều tiền của.
Khi tiếp cận với công việc kinh doanh, bạn sẽ thấy nó thật đơn giản. Có những quy luật kinh doanh mang tính toàn cầu có thể ứng dụng cho dù bạn là người bán trái cây ở sạp chợ hay đang điều hành một công ty được tạp chí Fortune xếp hạng top 500. Những nhà lãnh đạo doanh nghiệp thành công đều nắm vững được điều này. Họ có cái mà tôi gọi là khả năng kinh doanh nhạy bén _ khả năng nhận thức được một cơ cấu bán lẻ hay một đơn vị kinh doanh to lớn làm ra tiền của như thế nào? Bạn cũng thế, có thể hiểu được những vấn đề cơ bản về chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng vốn đầu tư, tăng trưởng và khách hàng. Bạn có thể phát triển khả năng kinh doanh nhạy bén của riêng bạn. Trong khi những ý tưởng này nghe có vẻ phức tạp nhưng thực ra chúng hết sức đơn giản. Hãy nhớ lại người thầy giỏi nhất đã từng dạy bạn môn hóa học. Một khi bạn đã hiểu nguyên tử được cấu thành từ proton, electron và notron, sau đó bạn có được kiến thức căn bản để giải quyết bất kỳ bài toán hóc búa nào liên quan đến môn hóa. Tôi cũng muốn cho bạn thấy trong kinh doanh cũng thế. Khi nắm bắt được những nguyên lý cơ bản, bạn có thể hiểu được những điều kiện để bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động.
Khi viết quyển sách này, tôi mong muốn gửi đến cho bạn kinh nghiệm quý giá tôi từng quan sát qua nhiều năm những nhà kinh doanh thành công suy nghĩ và làm việc như thế nào. Bạn sẽ thấy những điều cốt lõi mà họ đã đưa công ty và nhân viên của họ vượt lên vị trí đầu bảng của thế giới. Dĩ nhiên công việc kinh doanh có những mức độ khác biệt nhau nhưng một khi bạn đã nắm bắt được vấn đề trọng yếu, bạn sẽ có cơ sở để nhận thức công ty riêng của bạn.
Những Tổng giám đốc điều hành hàng đầu và những chủ tiệm bán lẻ có cùng một cách suy nghĩ. Họ hiểu được vấn đề tiền mặt của họ. Họ hiểu món hàng nào sinh ra lợi nhuận, món hàng nào không. Họ biết giữ món hàng nào lại, bán món nào đi (tốc độ đánh giá) và họ hiểu được khách hàng của họ cần gì. Quyển "Nghệ thuật lãnh đạo doanh nghiệp" giúp bạn nhận thức được những nguyên lý căn bản trong kinh doanh hoạt động như thế nào trong công ty. Khi bỏ ra vài giờ đọc nó, bạn đã bắt đầu tham gia vào chuyến hành trình này.
Ram Charan
Dallas, Texas
Tháng Giêng, 2001
NHẬN THỨC KINH DOANH GIỐNG NHƯ NHÀ ĐẦU TƯ
- Nhiệm vụ chủ yếu của TGĐĐH của một công ty thương mại nhà nước vượt ra ngoài phạm vi tạo ra tiền của. Những cổ đông (và những người làm thuê nhận lựa chọn cổ phiếu như một phần tiền thưởng) mong TGĐĐH hàng đầu đều hiểu quá trình làm ra tiền của và tài sản có liên hệ thông qua khái niệm là tỉ lệ lợi tức giá cổ phiếu (tỉ lệ P-E). P là giá trị cổ phiếu cá nhân. E là lợi tức trên cổ phiếu _ số lợi nhuận công ty tạo ra cho mỗi cổ phiếu.
- Tuy nhiên, tỉ lệ lợi tức-giá cổ phiếu là một con số (lấy P:E) nhưng không được mất trong phép tính. Bạn có thể có con số chính xác của công bạn từ phòng tài chánh hay từ bản giá cổ phiếu trên tờ Wall Street Journal.
- Thí dụ như một tỉ lệ P-E = 7 có nghĩa là mỗi đô la tiền kiếm được trên cổ phiếu, cổ phiếu có giá trị gấp 7 lần con số ấy. Hiển nhiên con số tỉ lệ P-E càng cao, càng có nhiều tài sản hơn.
- Về cơ bản mà nói tỉ lệ P-E biểu hiện cho những mong muốn về khả năng làm ra tiền của một công ty ở hiện tại và trong tương lai. Nó phản ánh chất lượng của công thức làm ra tiền của_sự kết hợp giữa chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận trên tài sản và tăng trưởng tổng thu nhập có lợi tức_so với các đối thủ và trong tương lai. Nhưng tỉ lệ P-E không phải đơn thuần là khái niệm dự đoán. Thông thường, nó được dựa trên bản báo cáo theo dõi hay trên phiếu tín nhiệm của các nhà đầu tư về quá trình quản lý có thể phù hợp với công thức tạo ra tiền của hay không.
- Tỉ lệ P-E khác nhau giữa các ngành kinh doanh hay giữa các công ty với nhau và có thể thay đổi theo thời gian. Tỉ lệ này được xem như là tiêu chuẩn khi công ty mất phương hướng trong quá trình tạo ra tiền của. Bất kỳ mâu thuẩn nào xem chừng không ổn về khả năng dự đoán của chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận trên tài sản và tăng trưởng đều phải đem ra thảo luận. (Các nhà đầu tư ghét mâu thuẩn và sự biến động). Ngược lại, tỉ lệ P-E có thể tăng nhờ vào tính năng nổ làm ra tiền của bền vững và khả năng có thể dự đoán qua thời gian. (Các nhà đầu tư thích bền vững và khả năng có thể dự đoán hàng quý một.)
- Nào chúng ta cùng xem một thí dụ về yếu tố có ảnh hưởng đến tỉ lệ P-E. Hãy so sánh Coca-Cola và Pepsi. Tỉ lệ của Coca luôn cao hơn đối thủ Pepsi trong vòng hơn 15 năm. Họ đều có tham vọng và tháo vát. Nhưng trong suốt 15 năm qua, tỉ lệ của Coca trung bình cao hơn của Pepsi 4 điểm. Cổ đông đánh giá cổ phần của Coca cao hơn của Pepsi bởi vì họ dự đoán rằng sự kết hợp về chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận trên tài sản và mức độ tăng trưởng tổng thu nhập có lợi tức của Coca tốt hơn Pepsi. Trong khoảng thời gian gần đây, Coca có giảm sút đôi ba phần và thay đổi cơ cấu lãnh đạo trong khi Pepsi vẫn cố tìm ra phương thức mới để tăng trưởng. Liệu các nhà đầu tư vẫn còn tiếp tục cho rằng Coca tốt hơn Pepsi trong một thập kỷ tới hay không?
- Những nguyên lý cơ bản này cũng có thể áp dụng cho công ty bạn cho dù đó là một công ty tư nhân. Quá trình kiểm soát ở các công ty nhà nước tạo ra những quy định quản lý tốt nhưng các công ty tư nhân cũng có những quy định riêng của mình. Thực hiện những hoạt động đúng đắn mỗi ngày đều xây dựng nên giá trị thiết thực. Hãy nhớ rằng các công ty tư nhân vẫn thường có thể được bán đi và trở thành công ty nhà nước và giá trị của chúng vẫn được xác định với cùng những nguyên lý cơ bản tiềm ẩn trong tỉ lệ P-E.
TỈ LỆ LỢI TỨC - GIÁ CỔ PHIẾU (P-E) ĐẾN TỪ ĐÂU?
- Các lực lượng của thị trường thực sự xác định tỉ lệ P-E dựa trên việc đánh giá của các nhà đầu tư cá nhân và phân tích chứng khoán. Các nhà phân tích chứng khoán có nhiệm vụ xác định điều gì theo họ là một tỉ lệ P-E thích hợp cho công ty họ đang theo dõi. Nếu việc đánh giá này cho thấy công ty xứng đáng tỉ lệ P-E cao hơn thị trường phản ánh, công ty của họ có khuynh hướng mua cổ phần của công ty ấy. Trường hợp ngược lại cũng thế. Nếu thị trường phản ánh tỉ lệ cao hơn con số các nhà phân tích chứng khoán tính toán công ty ấy đáng được hưởng, họ có khuynh hướng bán đi số cổ phần của nó.
- Không hề có gì bất thường khi hai nhà phân tích chứng khoán có hai bản đề nghị đối nghịch nhau bởi vì những bản đề nghị có liên quan đến vài mức độ đánh giá. Nhưng những nhà phân tích chứng khoán thường dùng những cách định hướng và so sánh nhất định. Họ quan sát những yếu tố điển hình của công ty so với các đối thủ khác trong cùng một ngành nghề và so sánh với các ngành nghề khác trong toàn bộ thị trường.
- Vì thế tỉ lệ P-E và giá cổ phần được xác định khi các nhà phân tích chứng khoán và đầu tư trên thế giới thực hiện những bản đề nghị và quyết định về cổ phần của công ty đó.
- Cách so sánh thông thường là nhìn vào tỉ lệ P-E của một công ty tư nhân so với tỉ lệ P-E trung bình của Standard & Poor's 500 _ một tập hợp của 500 công ty có chi nhánh rộng khắp và đại diện cho toàn cảnh kinh tế của quốc gia. Việc so sánh với con số trung bình, danh mục, của một loạt công ty được nêu ra. Thí dụ như trong khi tỉ lệ P-E trung bình của S & P 500 trong suốt mùa hè năm 2000 là 23, tỉ lệ P-E của ngành sản xuất xe Hoa Kỳ trung bình vào khoảng 8. Điều này cho bạn biết nhà đầu tư không đánh giá cao thành tích trong tương lai của ngành sản xuất xe như họ đánh giá nhiều công ty khác và số công ty trong danh mục S & P kết hợp lại.
- Thành thật mà nói, các nhà đầu tư khấu trừ đi giá trị của hai công ty lớn nhất thế giới Ford và GE 65% so sánh với tỉ lệ trung bình của S & P).
- Nguyên nhân chính để có việc khấu trừ nhiều như thế là trong quá khứ ngành sản xuất xe đã cho thấy thành quả quá thất vọng mỗi khi nền kinh tế rơi vào suy thoái.
- Hầu hết các nhà phân tích chứng khoán vẫn còn xem ngành sản xuất xe của Hoa Kỳ là ngành công nghiệp tuần hoàn vì dễ có khuynh hướng dẫn đến kết quả thảm hại khi tiền bạc bị đóng băng và lãi suất tăng cao. Ngành công nghiệp tuần hoàn thiếu sự bền vững và khả năng có thể dự đoán mà các nhà đầu tư thích. Do đó nhìn chung nó sẽ có tỉ lệ P-E thấp hơn so với các ngành công nghiệp không tuần hoàn.
- Tỉ lệ P-E cũng có thể khác nhau nhiều trong cùng một ngành công nghiệp. Lấy thí dụ như trong ngành buôn bán lẻ, vào tháng Tám năm 2000, tỉ lệ P-E của WalSmart là 35 trong khi Sears dưới 10.
- Bạn có thể băn khoăn các công ty mạng thích ứng như thế nào. Những công ty mạng là một hiện tượng mới nổi lên gần đây mà các nhà đầu tư vẫn còn nghiên cứu các xử lý. Không hề có một định hướng có thể hiểu theo nghĩa thông thường nào trong việc đánh giá những công ty ấy, nhiều công ty không có thu nhập. Các nhà đầu tư và phân tích chứng khoán thực sự phải đặt cách định hướng cũ qua một bên. Thoạt đầu, cổ phần của các công ty mạng buôn bán theo tỉ lệ của tổng thu nhập, không phải là tiền lãi, vì một số rất ít có thể kiếm được tiền. Nói chính xác hơn, thuật ngữ tỉ lệ P-E thật sự không thích hợp.
- Tỉ lệ của các công ty mạng dựa trên một vài cách phỏng đoán trong vòng 10 năm về việc công ty có thể tăng trưởng nhanh như thế nào. Giả định là nếu một công ty có thể xuất hiện trong không gian mạng trước bất kỳ công ty khác, cuối cùng nó có thể (không ai thực sự biết khi nào) chiếm lĩnh thị trường và khẳng định khả năng có lãi của ngành đó.
- Đối với nhiều công ty, điều này chính là một giấc mơ đẹp. Bắt đầu vào cuối năm 1999, chúng tôi nhận thấy những đánh giá cực kỳ cao về các công ty mạng đột nhiên sụp đổ ngay vào lúc người ta bắt đầu bàn cãi gay gắt về giả thuyết: tăng trưởng với tốc độ cao cuối cùng sẽ dẫn đến lợi nhuận khổng lồ. Những công ty mạng là cỗ máy xài tiền khủng khiếp bởi vì Silicon Valley gọi họ là "tỉ lệ tử vong cao". Lúc đầu các công ty này phải mua trang thiết bị, trả lương và phí quảng cáo để phát triển lợi nhuận trong sản phẩm của họ. Họ thường xuyên dùng tiền mặt hàng tháng hơn là kiếm được thông qua việc bán hàng. Tuy nhiên, đối với tất cả các ngành nghề, tiền mặt là nguồn cung cấp sự tồn tại. Không có nó, các công ty mạng bắt buộc phải bán công ty đi hay biến mất khỏi thị trường.
- Thế giới của những công ty mạng là hư cấu. Hãy trong thật kỹ cuộc chơi và theo dõi tỉ lệ P-E. Nhưng nhớ giữ chặt túi đựng số tiền vốn rất gian khổ bạn mới kiếm được.
QUẢN LÝ TỈ LỆ P-E
- Một tỉ lệ P-E cao hơn tạo ra nhiều tài sản cho cổ đông. Vâng, một TGĐĐH với khả năng kinh doanh nhạy bén hiểu rõ khái niệm này. Thậm chí sự thực này đặt tầm quan trọng hơn nữa lên công thức làm ra tiền của. Nếu công thức đúng, công ty sẽ tạo ra nhiều tiền. Nếu công thức đúng và ban lãnh đạo công ty có thể giữ vững nó qua thời gian, tỉ lệ P-E sẽ tăng lên. Việc tạo ra tài sản thậm chí còn gây ấn tượng bởi vì cả lợi nhuận và tỉ lệ P-E đều tăng.
- Ban điều hành doanh nghiệp ảnh hưởng lên tỉ lệ P-E như thế nào? Hãy trở lại với thí dụ về Coca và Pepsi. Trong khoảng 10 năm liên tục, doanh số bán ra của Pepsi chỉ tăng cỡ 14% mỗi năm nhưng Coca đã tạo ra được lãi ròng lớn hơn trên doanh số bán ra và lợi nhuận trên vốn đầu tư luôn cao hơn một cách ổn định. Sự thực là về phương diện tổng doanh số bán ra, Pepsi có tăng trưởng nhưng Coca đáp ứng những mục tiêu khác nhau của công thức làm ra tiền của tốt hơn. Tăng trưởng của Coca sinh ra lãi nhiều hơn của các nhà đầu tư cho Pepsi. Mặc dù tỉ lệ P-E của Pepsi tăng lên đáng kể 12 điểm (từ 17 đến 29) giữa những naqm 1990 - 1999, tỉ lệ của Coca tăng cao hơn _ 27 điểm (từ 20 đến 47).
- Một công ty nhà nước phát triển ở tuyến đầu (doanh số bán ra, tổng thu nhập) và tuyến cuối (lãi ròng, thu nhập) ổn định qua một khoảng thời gian mà không có giảm sút về tốc độ quay vòng sẽ gia tăng tỉ lệ P-E. Kết quả thậm chí sẽ tốt hơn nếu bạn làm tăng tốc độ quay vòng. Giá trị của cổ phần tăng theo và cổ đông sẽ giàu có hơn.
- Chuyện gì sẽ xảy ra khi công ty bắt đầu thiếu những mong muốn về thu nhập trên cổ phần, cho dù chỉ là vài xu? Hậu quả có thể cực kỳ nguy hiểm. Vào năm 2000, giá cổ phần của vài công ty như Honeywell, Nordstrom và Computer Associates tụt dốc từ 25 cho đến 40% trong một ngày. Vào tháng Bảy 2000, khi Honeywell cảnh báo các nhà đầu tư lợi nhuận trên cổ phần trong quý ấy vào khoảng từ 1 đến 5 xu thấp hơn con số dự đoán 78 xu, giá cổ phiếu rơi xuống 18% trong một ngày và 10% trong ngày hôm sau. Thế là GE mua công ty này với một giá được xem là khá rẻ.
- Khi một công ty thiếu những gì người ta mong đợi, các nhà đầu tư bắt đầu đặt vấn đề về phương pháp kinh doanh của nó. Nghi ngờ liên tục phát sinh: liệu công ty có thực hiện đúng những kế hoạch đã đề ra? Và không chỉ có giá cổ phiếu giảm, tỉ lệ P-E giảm theo. Do đó thiếu kế hoạch về lợi nhuận trên cổ phần được tính toán chi ly đến từ xu một hay có thể nói tăng trưởng không cao như người ta mong muốn sẽ làm quá trình tạo ra tài sản thu hẹp lại. Trong sáu tháng đầu năm 2000, tỉ lệ P-E của Honeywell giảm xuống đáng kể.
- Những thay đổi đột ngột về giá trị như thế sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Hãy cố hình dung xem điều gì đang xảy ra bên trong những tình huống ấy. Những nhà đầu tư quan trọng, cụ thể là các nhà quản lý ngân quỹ thí dụ như Fidelity, Vanguard và CalPERS đã bỏ vốn hàng ngàn tỉ đô, cho gọi ông TGĐĐH, CFO (giám đốc phụ trách tài chính), giám đốc phòng kế hoạch đầu tư và các thành viên của hội đồng quản trị lên làm việc liên tục. Những nhà đầu tư không nhất thiết phải đào sâu vào kế hoạch chi tiết của công ty, họ chỉ theo dõi quá trình làm ra tiền của rồi họ bắt đầu hoảng loạn lên khi một trong những kế hoạch đầu tư này thiếu mục tiêu tạo ra lợi nhuận như mong muốn những hai lần trong một năm.
- Rồi ông TGĐĐH phải tốn thời gian thuyết phục và cam đoan với các nhà đầu tư là mọi việc đều sẽ ổn thỏa. Ông ta phải bỏ nhiều công sức trấn an thay vì tập trung vào điều hành doanh nghiệp. Khi giá trị cổ phiếu của Honeywell bắt đầu giảm đi, ông TGĐĐH Michael Bonsignore phát biểu với tờ Wall Street Journal vào tháng Sáu 2000: "Tất cả điều này nhằm cũng cố lại niềm tin của các nhà đầu tư."
- Nhưng đó không phải là một vấn đề chỉ riêng cho ông TGĐĐH. Nếu tỉ lệ P-E suy thoái, toàn thể công ty đều bị phê bình. Trước hết, nó không còn khả năng mua lại các công ty khác. Rồi thay vì là một công ty phát triển, nó bắt đầu trở thành mục tiêu để các công ty khác chiếm hữu nếu họ muốn tăng trưởng.
- Các ngân hàng đầu tư cũng có mặt hàng giống hệt như bất kỳ ngành công nghiệp nào, được biết đến là quá trình hợp nhất và liên kết các công ty. Ở ngân hàng đầu tư, trên màn hình ra đa kiểm soát các công ty yếu kém, một công ty có thể bắt đầu xuất hiện. Rồi một công ty khác có tiềm năng sẽ nhận được lời thuyết phục nên mua công ty ấy. Công ty mạnh giờ đây đủ sức mua lại toàn bộ doanh nghiệp và có nhiệm vụ đẩy mạnh công việc kinh doanh của công ty yếu kém.
- Chúng ta thử tham khảo một thí dụ như sau: Vào giữa thập kỷ 90, AMP.Inc, nhà sản xuất thiết bị liên lạc vô tuyến nổi tiếng nhất và lớn nhất thế giới dường như đứng vững trong quá trình tăng trưởng. Công ty này thống trị ngành công nghiệp và bán sản phẩm cho vài ngành công nghiệp đang phát triển khác như bưu chính viễn thông và máy vi tính. Thế nhưng AMP lại mất đi những nguyên lý cơ bản tạo ra lợi nhuận và để cho lãi ròng, mức độ tăng trưởng và tốc độ quay vòng của nó giảm sút nếu so với các đối thủ. Kết quả là tỉ lệ P-E của nó giảm theo. Vào năm 1998, công ty AMP trở thành mục tiêu để AlliedSignal và Tyco dòm ngó để mua lại.
- Cuối cùng Tyco trả gấp hai lần giá cổ phiếu của AMP để sở hữu và bắt đầu điều chỉnh những khó khăn tồn tại bên trong AMP. Tyco mất hết một năm và tốn khoảng 1 tỉ đô trong việc giảm giá, phát triển lãi ròng và tốc độ quay vòng để đưa công ty lại quỹ đạo tăng trưởng. Rồi tỉ lệ P-E và giá cổ phiếu của Tyco cùng tăng lên theo quá trình sát nhập ấy.
- Hẳn chúng ta đều biết chuyện gì diễn ra khi quá trình hợp nhất và liên kết hoạt động. Yếu tố về tài chính khá là gay gắt. Hầu hết khoảng thời gian dùng vào việc điều phối, có nghĩa là công ty bị hợp nhất có thể được kết hợp hay loại bỏ những thứ như nhân đôi phương tiện phân phối, lực lượng bán hàng và phòng tài chính. Công đoạn điều phối thường có khuynh hướng giảm phí tổn mà giảm phí tổn sẽ ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong khoảng thời gian nhất định. Phí tổn về nhân sự luôn rất cao. Điều này làm người hợp nhất vui mừng nhưng những kẻ bị hợp nhất sầu khổ.
- Hãy tìm ra tỉ lệ P-E của công ty bạn là gì và so sánh nó với các đối thủ và tỉ lệ trung bình trong danh mục của S & P 500 và rồi dành một phút để suy tư: Liệu bạn và công ty mình có tập trung vào mức độ tăng trưởng có lợi, nằm trong dự đoán và bền vững, nguồn chu kỳ tiền mặt có đủ khả năng, lãi ròng và tốc độ quay vòng có tăng lên, và như thế lợi nhuận trên tài sản tăng lên hàng quý hay không? Tất cả những yếu tố ấy kết hợp lại có tốt hơn các đối thủ và con số trong danh mục của S & P 500. Nếu thế, bạn không cần phải phòng thủ. Bạn đang đứng ở thế tấn công và tìm kiếm những công ty yếu hơn cần hợp nhất trong cùng ngành công nghiệp. Bạn có thể đang tiếp tục giữ vững mức hoạt động ở hàng đầu và hấp dẫn nhiều nhà đầu tư khác. Rồi bạn sẽ cảm thấy thật thư thái khi mình là một phần của ngành kinh doanh phát đạt.
- Ngược lại, nếu xét trên những nguyên lý cơ bản tạo ra lợi nhuận, liệu công ty bạn có đang chịu đựng tình trạng kinh doanh yếu kém triền miên và không ổn định? Do đó tỉ lệ P-E của công ty bạn có bắt đầu tụt dốc khi so sánh với các đối thủ và danh mục S & P 500 hay không? Liệu ông chủ bạn và những cộng sự của ông ta có đang hoảng loạn? Hay họ cố lẩn tránh thực tế?
- Tỉ lệ P-E của công ty bạn có thể khá cao khi so sánh với các đối thủ nhưng lại quá thấp so với những công ty bên ngoài ngành nghề. Hãy dùng nó như là một dấu hiệu thuộc về giả định: Ngành kinh doanh của bạn đang chiếm một vị trí khá khiêm tốn trong tăng trưởng hay không có tăng trưởng. Hãy nhớ một thí dụ: Wal-Smart đã đưa ra giá trị thị trường to lớn trong cái gọi là thị trường tăng trưởng chậm. Hãy hỏi ban lãnh đạo của bạn hàng loạt các câu hỏi rồi chuẩn bị giúp họ tìm đáp án.
BẢN BÁO CÁO THEO DÕI CỦA GE
- Nào chúng ta cùng nhắc lại mối quan hệ giữa quá trình tạo ra tiền của và tạo ra tài sản. Những TGĐĐH hàng đầu ứng dụng khả năng kinh doanh nhạy bén để đơn giản hóa các vấn đề phức tạp trong công ty, ngành nghề kinh doanh và môi trường kinh doanh rộng lớn hơn. Họ tiếp tục cải thiện những nguyên lý cơ bản tạo ra lợi nhuận và khi làm mức độ tăng trưởng ổn định và không ngừng tăng lên qua thời gian như thế, họ đã sáng tạo ra một bản báo cáo theo dõi. Cộng đồng phân tích đầu tư có khuynh hướng thưởng cho những TGĐĐH như thế và công ty với tỉ lệ P-E cao. Chính điều này đã tạo ra tài sản to lớn cho các cổ đông. Rồi nó đảm bảo việc làm, cơ hội phát triển cho người làm thuê và tài sản cho những người nhận lựa chọn cổ phiếu.
- Có thể xem GE là thí dụ tốt nhất trên thế giới về một công ty có bản báo cáo theo dõi về quá trình tạo ra lợi nhuận đã thúc đẩy tỉ lệ P-E vào tạo ra tài sản cho cổ đông. Nào hãy nhớ lại vào năm 1981, khi Jack Welch trở thành TGĐĐH của GE, Westinghouse và GE là hai đối thủ theo nhau sát nút. Rồi sau đó Westinghouse biến mất và GE giờ đây được xếp vào hàng ngũ các công ty có giá trị nhất trên thế giới. Điều này có nghĩa là nếu bạn lấy tất cả cổ phiếu của GE nhân với giá cổ phiếu, bạn sẽ thấy công ty trị giá 500 tỉ đô vào giữa năm 2000. (trong khi Jack Welch bắt đầu làm TGĐĐH cho GE vào năm 1981, giá thị trường của nó chỉ vào khoảng 12 tỉ đô). Rồi vào năm 1995, tỉ lệ P-E của GE nằm trong khoảng thấp 13 cho đến 19. Tháng Mười Một năm 2000, tỉ lệ ấy là 43_cao hơn nhiều hầu hết các công ty có bất kỳ tầm cỡ to lớn nào.
- GE khổng lồ và phức tạp luôn phải đối mặt với tất cả những đặc tính đa dạng của nền kinh tế toàn cầu_tiền tệ biến động, lãi suất ngân hàng tăng giảm, thế nhưng GE không ngừng tập trung vào những nguyên lý cơ bản để làm ra lợi nhuận.
- Nào chúng ta cùng xem GE đã từng hoạt động như thế nào. Mức tăng trưởng bền vững_tăng trưởng bán hàng ít nhất là 6% một năm (11% vào năm 1999), lãi ròng tăng đều từng năm trong suốt 17 năm, tăng trưởng về lợi nhuận trên cổ phiếu từ 12% cho đến 15%_liên tục tăng từng quý một trong suốt 17 năm. Tốc độ quay vòng hàng tồn kho của GE tăng từ 5,8 vào năm 1995 lên đến 10 vào năm 1999, nhất là GE tạo ra nguồn tiền mặt và lượng tiền mặt quay trở lại phục vụ cho cổ phiếu của nó mỗi năm.
- GE không ngừng tạo ra những kết quả vượt bậc và có những kế hoạch hiện thực và có ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai. Khi các nhà đầu tư thấy sự ổn định qua nhiều năm, họ bắt đầu nghĩ nó sẽ tiếp diễn. Họ tin là GE đã nghĩ ra được một phương thức để tạo ra nhiều lợi nhuận hơn hàng quý, hàng năm.
- Thật vậy, GE chính là cỗ máy tạo ra tiền mặt.
- Tất cả nhân viên của GE đều biết là nếu họ không tiếp tục đóng góp vào quá trình tạo ra tiền của, GE sẽ không còn là nơi để họ làm việc. Vì thế nhận thức được chu kỳ tiền mặt, lợi nhuận trên tài sản, tăng trưởng, dự đoán được quá trình phát triển trong một khoảng thời gian dài và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng_nói tóm lại là khả năng kinh doanh nhạy bén_chính là bản chất của tất cả nhân viên ở công ty ấy. GE là "đầu tàu" trong việc đảm bảo cho toàn bộ nhân viên của mình ở bất kỳ mức độ nào, bao gồm thư ký, những người nhận lựa chọn cổ phiếu trong suốt khoảng đời làm việc trung bình 25 năm có thể trở thành những triệu phú đúng nghĩa.
NHỮNG NỖ LỰC CỦA FORD NHẰM THÚC ĐẨY TỈ LỆ P-E
- Giờ chúng ta cùng khảo sát Ford, một công ty cố ra sức cải thiện hiệu quả tỉ lệ P-E. Tỉ lệ P-E của Ford chỉ vào khoảng 8 nếu so sánh với con số trung bình trong danh mục S & P 500 là 23. Đó là một khoảng cách khá lớn mà TGĐĐH Jac Nasser đang cố hết sức thu nhỏ lại với khả năng kinh doanh nhạy bén của ông ta.
- Mỗi tuần ông Nasser viết một lá thư dài khoảng 1 đến 2 trang giấy đến các nhân viên trình bày những suy nghĩ chân thành của mình về chủ đề kinh doanh. Lá thư này được chuyển qua hộp thư điện tử cho 350.000 nhân viên trên toàn thế giới. Vào đầu năm 2000, khi giá cổ phiếu và tỉ lệ P-E của Ford sụt giảm, Nasser bèn viết lá thư giải thích lý do tại sao và rồi ông ta lên kế hoạch về những lợi thế kinh doanh mà ông ta tin rằng sẽ cải thiện được tỉ lệ P-E.
- Một trong những lợi thế ấy là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Nhìn chung lý luận của ông ta có thể hiểu như sau: Khách hàng chính là người trả tiền cho tất cả các công ty. Thỏa mãn nhu cầu của khách hàng là cải thiện được lãi ròng và tốc độ quay vòng bởi vì sản phẩm của bạn sẽ không tồn đọng quá lâu và khách hàng sẽ mong muốn mua thêm một ít hàng hóa có liên quan đến thương hiệu của bạn. Ngoài ra, xây dựng mối quan hệ với khách hàng cũ để giữ khách sẽ tốn ít phí tổn hơn là phải liên tục lôi kéo khách hàng mới. Vì thế thỏa mãn nhu cầu của khách hàng sẽ thúc đẩy doanh số bán ra và lợi nhuận tăng lên.
- Một lợi thế khác của Ford là dùng một dụng cụ có tên: 6:sigma lôi kéo khách hàng. Đơn giản hơn, 6-sigma là một dụng cụ có thể giúp người ta chẩn đoán nguyên nhân cơ bản gây nên những rắc rối mà có thể ngăn cản Ford hoàn thành mục đích thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Toàn bộ nhân viên của Ford đều được tập huấn để hiểu và ứng dụng nó để xác định những cách thức để cải thiện việc từng trải của khách hàng.
- Lấy thí dụ như việc khách hàng gọi điện. Nếu cuộc gọi không được trả lời ngay trong ba lần reo đầu tiên, khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng. 6-sisma khẳng định rằng trong tổng số 1 triệu cuộc gọi, chỉ có 3 cuộc gọi được trả lời trong ba lần reo đầu tiên. Nó tập trung và quan tâm vào toàn bộ quá trình nhận và trả lời các cuộc gọi điện thoại.
- Cũng với cách tiếp cận ấy được áp dụng cho việc giới thiệu các sản phẩm mới ra thị trường. Nếu điều này được thực hiện hoàn hảo, tốc độ quay vòng, việc tận dụng tài sản và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng sẽ được cải thiện. Một khi khách hàng cảm thấy hài lòng, việc mua hàng được lập đi, lập lại, thúc đẩy tăng trưởng và làm tăng lãi ròng.
- Lợi thế kinh doanh thứ ba của Ford là mở rộng những thương hiệu hàng đầu của mình (Jaguar, Aston, Lincoln, Volvo và Land Rover) trên khắp thế giới và làm phát triển kinh doanh với những thương vụ mới có lợi nhuận.
- Ông Nasser đã chọn những lợi thế kinh doanh mà ông ta nghĩ sẽ thúc đẩy tỉ lệ P-E của Ford. Ông ta thực hiện những quyết định này trên nền tảng của những nguyên lý cơ bản trong kinh doanh_chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận trên tài sản, tăng trưởng và khách hàng.
- Có nhiều thứ một nhà chuyên môn ở mức độ trung bình có thể tập trung vào để cải thiện tỉ lệ P-E. Giả sử bạn là một kỹ sư làm việc ở công ty Ford. Bạn có thể vượt qua hội chứng không thể phát minh ở đây? Bằng cách sửa đổi một phần đang tồn tại của nhà cung cấp thay vì tự bạn thiết kế một phần khác, bạn có thể đưa cho nhà cung cấp khối lượng nhiều hơn và cùng trong một khoảng thời gian sẽ làm giảm đi phí tổn phần nào đó cho Ford. Nếu bạn tiết kiệm được 20 triệu đô một năm theo cách thức ấy và bạn không cần phải sắm thêm trang thiết bị cho nhà xưởng, bạn đã tao ra tài sản cho cổ đông. Nếu bạn theo đuổi những giải pháp đại loại như thế hàng năm, tỉ lệ P-E sẽ tăng lên. Liệu điều này trở thành một lợi thế kinh doanh trong phòng ban của bạn như thế nào nhỉ?
- Chuyện gì sẽ xảy ra nếu một nỗ lực liên hợp giữa sản xuất, tiếp thị và đại lý bán xe có thể cắt giảm thời gian khi một chiếc xe rời khỏi nhà máy cho đến khi nó tới được đại lý và tới tay người tiêu dùng? Hãy suy nghĩ thêm mối liên quan chặt chẽ giữa quá trình làm ra lợi nhuận, việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng và tỉ lệ P-E.
- Những cơ hội giúp cho tất cả nhân viên phát triển khả năng kinh doanh nhạy bén của riêng họ. Lưu ý rằng cổ đông không chỉ là những người duy nhất hưởng lợi từ quá trình tạo ra tài sản. Toàn thể nhân viên cũng thế, có thể hưởng lợi từ những cơ hội để kiếm thêm thu nhập, phát triển hơn, và quan trọng nhất là tránh được tình trạng bấp bênh luôn thay đổi từ môi trường xung quanh tác động vào bởi vì công ty yếu kém.
- Nhiệm vụ chủ yếu của TGĐĐH của một công ty thương mại nhà nước vượt ra ngoài phạm vi tạo ra tiền của. Những cổ đông (và những người làm thuê nhận lựa chọn cổ phiếu như một phần tiền thưởng) mong TGĐĐH hàng đầu đều hiểu quá trình làm ra tiền của và tài sản có liên hệ thông qua khái niệm là tỉ lệ lợi tức giá cổ phiếu (tỉ lệ P-E). P là giá trị cổ phiếu cá nhân. E là lợi tức trên cổ phiếu _ số lợi nhuận công ty tạo ra cho mỗi cổ phiếu.
- Tuy nhiên, tỉ lệ lợi tức-giá cổ phiếu là một con số (lấy P:E) nhưng không được mất trong phép tính. Bạn có thể có con số chính xác của công bạn từ phòng tài chánh hay từ bản giá cổ phiếu trên tờ Wall Street Journal.
- Thí dụ như một tỉ lệ P-E = 7 có nghĩa là mỗi đô la tiền kiếm được trên cổ phiếu, cổ phiếu có giá trị gấp 7 lần con số ấy. Hiển nhiên con số tỉ lệ P-E càng cao, càng có nhiều tài sản hơn.
- Về cơ bản mà nói tỉ lệ P-E biểu hiện cho những mong muốn về khả năng làm ra tiền của một công ty ở hiện tại và trong tương lai. Nó phản ánh chất lượng của công thức làm ra tiền của_sự kết hợp giữa chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận trên tài sản và tăng trưởng tổng thu nhập có lợi tức_so với các đối thủ và trong tương lai. Nhưng tỉ lệ P-E không phải đơn thuần là khái niệm dự đoán. Thông thường, nó được dựa trên bản báo cáo theo dõi hay trên phiếu tín nhiệm của các nhà đầu tư về quá trình quản lý có thể phù hợp với công thức tạo ra tiền của hay không.
- Tỉ lệ P-E khác nhau giữa các ngành kinh doanh hay giữa các công ty với nhau và có thể thay đổi theo thời gian. Tỉ lệ này được xem như là tiêu chuẩn khi công ty mất phương hướng trong quá trình tạo ra tiền của. Bất kỳ mâu thuẩn nào xem chừng không ổn về khả năng dự đoán của chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận trên tài sản và tăng trưởng đều phải đem ra thảo luận. (Các nhà đầu tư ghét mâu thuẩn và sự biến động). Ngược lại, tỉ lệ P-E có thể tăng nhờ vào tính năng nổ làm ra tiền của bền vững và khả năng có thể dự đoán qua thời gian. (Các nhà đầu tư thích bền vững và khả năng có thể dự đoán hàng quý một.)
- Nào chúng ta cùng xem một thí dụ về yếu tố có ảnh hưởng đến tỉ lệ P-E. Hãy so sánh Coca-Cola và Pepsi. Tỉ lệ của Coca luôn cao hơn đối thủ Pepsi trong vòng hơn 15 năm. Họ đều có tham vọng và tháo vát. Nhưng trong suốt 15 năm qua, tỉ lệ của Coca trung bình cao hơn của Pepsi 4 điểm. Cổ đông đánh giá cổ phần của Coca cao hơn của Pepsi bởi vì họ dự đoán rằng sự kết hợp về chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận trên tài sản và mức độ tăng trưởng tổng thu nhập có lợi tức của Coca tốt hơn Pepsi. Trong khoảng thời gian gần đây, Coca có giảm sút đôi ba phần và thay đổi cơ cấu lãnh đạo trong khi Pepsi vẫn cố tìm ra phương thức mới để tăng trưởng. Liệu các nhà đầu tư vẫn còn tiếp tục cho rằng Coca tốt hơn Pepsi trong một thập kỷ tới hay không?
- Những nguyên lý cơ bản này cũng có thể áp dụng cho công ty bạn cho dù đó là một công ty tư nhân. Quá trình kiểm soát ở các công ty nhà nước tạo ra những quy định quản lý tốt nhưng các công ty tư nhân cũng có những quy định riêng của mình. Thực hiện những hoạt động đúng đắn mỗi ngày đều xây dựng nên giá trị thiết thực. Hãy nhớ rằng các công ty tư nhân vẫn thường có thể được bán đi và trở thành công ty nhà nước và giá trị của chúng vẫn được xác định với cùng những nguyên lý cơ bản tiềm ẩn trong tỉ lệ P-E.
TỈ LỆ LỢI TỨC - GIÁ CỔ PHIẾU (P-E) ĐẾN TỪ ĐÂU?
- Các lực lượng của thị trường thực sự xác định tỉ lệ P-E dựa trên việc đánh giá của các nhà đầu tư cá nhân và phân tích chứng khoán. Các nhà phân tích chứng khoán có nhiệm vụ xác định điều gì theo họ là một tỉ lệ P-E thích hợp cho công ty họ đang theo dõi. Nếu việc đánh giá này cho thấy công ty xứng đáng tỉ lệ P-E cao hơn thị trường phản ánh, công ty của họ có khuynh hướng mua cổ phần của công ty ấy. Trường hợp ngược lại cũng thế. Nếu thị trường phản ánh tỉ lệ cao hơn con số các nhà phân tích chứng khoán tính toán công ty ấy đáng được hưởng, họ có khuynh hướng bán đi số cổ phần của nó.
- Không hề có gì bất thường khi hai nhà phân tích chứng khoán có hai bản đề nghị đối nghịch nhau bởi vì những bản đề nghị có liên quan đến vài mức độ đánh giá. Nhưng những nhà phân tích chứng khoán thường dùng những cách định hướng và so sánh nhất định. Họ quan sát những yếu tố điển hình của công ty so với các đối thủ khác trong cùng một ngành nghề và so sánh với các ngành nghề khác trong toàn bộ thị trường.
- Vì thế tỉ lệ P-E và giá cổ phần được xác định khi các nhà phân tích chứng khoán và đầu tư trên thế giới thực hiện những bản đề nghị và quyết định về cổ phần của công ty đó.
- Cách so sánh thông thường là nhìn vào tỉ lệ P-E của một công ty tư nhân so với tỉ lệ P-E trung bình của Standard & Poor's 500 _ một tập hợp của 500 công ty có chi nhánh rộng khắp và đại diện cho toàn cảnh kinh tế của quốc gia. Việc so sánh với con số trung bình, danh mục, của một loạt công ty được nêu ra. Thí dụ như trong khi tỉ lệ P-E trung bình của S & P 500 trong suốt mùa hè năm 2000 là 23, tỉ lệ P-E của ngành sản xuất xe Hoa Kỳ trung bình vào khoảng 8. Điều này cho bạn biết nhà đầu tư không đánh giá cao thành tích trong tương lai của ngành sản xuất xe như họ đánh giá nhiều công ty khác và số công ty trong danh mục S & P kết hợp lại.
- Thành thật mà nói, các nhà đầu tư khấu trừ đi giá trị của hai công ty lớn nhất thế giới Ford và GE 65% so sánh với tỉ lệ trung bình của S & P).
- Nguyên nhân chính để có việc khấu trừ nhiều như thế là trong quá khứ ngành sản xuất xe đã cho thấy thành quả quá thất vọng mỗi khi nền kinh tế rơi vào suy thoái.
- Hầu hết các nhà phân tích chứng khoán vẫn còn xem ngành sản xuất xe của Hoa Kỳ là ngành công nghiệp tuần hoàn vì dễ có khuynh hướng dẫn đến kết quả thảm hại khi tiền bạc bị đóng băng và lãi suất tăng cao. Ngành công nghiệp tuần hoàn thiếu sự bền vững và khả năng có thể dự đoán mà các nhà đầu tư thích. Do đó nhìn chung nó sẽ có tỉ lệ P-E thấp hơn so với các ngành công nghiệp không tuần hoàn.
- Tỉ lệ P-E cũng có thể khác nhau nhiều trong cùng một ngành công nghiệp. Lấy thí dụ như trong ngành buôn bán lẻ, vào tháng Tám năm 2000, tỉ lệ P-E của WalSmart là 35 trong khi Sears dưới 10.
- Bạn có thể băn khoăn các công ty mạng thích ứng như thế nào. Những công ty mạng là một hiện tượng mới nổi lên gần đây mà các nhà đầu tư vẫn còn nghiên cứu các xử lý. Không hề có một định hướng có thể hiểu theo nghĩa thông thường nào trong việc đánh giá những công ty ấy, nhiều công ty không có thu nhập. Các nhà đầu tư và phân tích chứng khoán thực sự phải đặt cách định hướng cũ qua một bên. Thoạt đầu, cổ phần của các công ty mạng buôn bán theo tỉ lệ của tổng thu nhập, không phải là tiền lãi, vì một số rất ít có thể kiếm được tiền. Nói chính xác hơn, thuật ngữ tỉ lệ P-E thật sự không thích hợp.
- Tỉ lệ của các công ty mạng dựa trên một vài cách phỏng đoán trong vòng 10 năm về việc công ty có thể tăng trưởng nhanh như thế nào. Giả định là nếu một công ty có thể xuất hiện trong không gian mạng trước bất kỳ công ty khác, cuối cùng nó có thể (không ai thực sự biết khi nào) chiếm lĩnh thị trường và khẳng định khả năng có lãi của ngành đó.
- Đối với nhiều công ty, điều này chính là một giấc mơ đẹp. Bắt đầu vào cuối năm 1999, chúng tôi nhận thấy những đánh giá cực kỳ cao về các công ty mạng đột nhiên sụp đổ ngay vào lúc người ta bắt đầu bàn cãi gay gắt về giả thuyết: tăng trưởng với tốc độ cao cuối cùng sẽ dẫn đến lợi nhuận khổng lồ. Những công ty mạng là cỗ máy xài tiền khủng khiếp bởi vì Silicon Valley gọi họ là "tỉ lệ tử vong cao". Lúc đầu các công ty này phải mua trang thiết bị, trả lương và phí quảng cáo để phát triển lợi nhuận trong sản phẩm của họ. Họ thường xuyên dùng tiền mặt hàng tháng hơn là kiếm được thông qua việc bán hàng. Tuy nhiên, đối với tất cả các ngành nghề, tiền mặt là nguồn cung cấp sự tồn tại. Không có nó, các công ty mạng bắt buộc phải bán công ty đi hay biến mất khỏi thị trường.
- Thế giới của những công ty mạng là hư cấu. Hãy trong thật kỹ cuộc chơi và theo dõi tỉ lệ P-E. Nhưng nhớ giữ chặt túi đựng số tiền vốn rất gian khổ bạn mới kiếm được.
QUẢN LÝ TỈ LỆ P-E
- Một tỉ lệ P-E cao hơn tạo ra nhiều tài sản cho cổ đông. Vâng, một TGĐĐH với khả năng kinh doanh nhạy bén hiểu rõ khái niệm này. Thậm chí sự thực này đặt tầm quan trọng hơn nữa lên công thức làm ra tiền của. Nếu công thức đúng, công ty sẽ tạo ra nhiều tiền. Nếu công thức đúng và ban lãnh đạo công ty có thể giữ vững nó qua thời gian, tỉ lệ P-E sẽ tăng lên. Việc tạo ra tài sản thậm chí còn gây ấn tượng bởi vì cả lợi nhuận và tỉ lệ P-E đều tăng.
- Ban điều hành doanh nghiệp ảnh hưởng lên tỉ lệ P-E như thế nào? Hãy trở lại với thí dụ về Coca và Pepsi. Trong khoảng 10 năm liên tục, doanh số bán ra của Pepsi chỉ tăng cỡ 14% mỗi năm nhưng Coca đã tạo ra được lãi ròng lớn hơn trên doanh số bán ra và lợi nhuận trên vốn đầu tư luôn cao hơn một cách ổn định. Sự thực là về phương diện tổng doanh số bán ra, Pepsi có tăng trưởng nhưng Coca đáp ứng những mục tiêu khác nhau của công thức làm ra tiền của tốt hơn. Tăng trưởng của Coca sinh ra lãi nhiều hơn của các nhà đầu tư cho Pepsi. Mặc dù tỉ lệ P-E của Pepsi tăng lên đáng kể 12 điểm (từ 17 đến 29) giữa những naqm 1990 - 1999, tỉ lệ của Coca tăng cao hơn _ 27 điểm (từ 20 đến 47).
- Một công ty nhà nước phát triển ở tuyến đầu (doanh số bán ra, tổng thu nhập) và tuyến cuối (lãi ròng, thu nhập) ổn định qua một khoảng thời gian mà không có giảm sút về tốc độ quay vòng sẽ gia tăng tỉ lệ P-E. Kết quả thậm chí sẽ tốt hơn nếu bạn làm tăng tốc độ quay vòng. Giá trị của cổ phần tăng theo và cổ đông sẽ giàu có hơn.
- Chuyện gì sẽ xảy ra khi công ty bắt đầu thiếu những mong muốn về thu nhập trên cổ phần, cho dù chỉ là vài xu? Hậu quả có thể cực kỳ nguy hiểm. Vào năm 2000, giá cổ phần của vài công ty như Honeywell, Nordstrom và Computer Associates tụt dốc từ 25 cho đến 40% trong một ngày. Vào tháng Bảy 2000, khi Honeywell cảnh báo các nhà đầu tư lợi nhuận trên cổ phần trong quý ấy vào khoảng từ 1 đến 5 xu thấp hơn con số dự đoán 78 xu, giá cổ phiếu rơi xuống 18% trong một ngày và 10% trong ngày hôm sau. Thế là GE mua công ty này với một giá được xem là khá rẻ.
- Khi một công ty thiếu những gì người ta mong đợi, các nhà đầu tư bắt đầu đặt vấn đề về phương pháp kinh doanh của nó. Nghi ngờ liên tục phát sinh: liệu công ty có thực hiện đúng những kế hoạch đã đề ra? Và không chỉ có giá cổ phiếu giảm, tỉ lệ P-E giảm theo. Do đó thiếu kế hoạch về lợi nhuận trên cổ phần được tính toán chi ly đến từ xu một hay có thể nói tăng trưởng không cao như người ta mong muốn sẽ làm quá trình tạo ra tài sản thu hẹp lại. Trong sáu tháng đầu năm 2000, tỉ lệ P-E của Honeywell giảm xuống đáng kể.
- Những thay đổi đột ngột về giá trị như thế sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Hãy cố hình dung xem điều gì đang xảy ra bên trong những tình huống ấy. Những nhà đầu tư quan trọng, cụ thể là các nhà quản lý ngân quỹ thí dụ như Fidelity, Vanguard và CalPERS đã bỏ vốn hàng ngàn tỉ đô, cho gọi ông TGĐĐH, CFO (giám đốc phụ trách tài chính), giám đốc phòng kế hoạch đầu tư và các thành viên của hội đồng quản trị lên làm việc liên tục. Những nhà đầu tư không nhất thiết phải đào sâu vào kế hoạch chi tiết của công ty, họ chỉ theo dõi quá trình làm ra tiền của rồi họ bắt đầu hoảng loạn lên khi một trong những kế hoạch đầu tư này thiếu mục tiêu tạo ra lợi nhuận như mong muốn những hai lần trong một năm.
- Rồi ông TGĐĐH phải tốn thời gian thuyết phục và cam đoan với các nhà đầu tư là mọi việc đều sẽ ổn thỏa. Ông ta phải bỏ nhiều công sức trấn an thay vì tập trung vào điều hành doanh nghiệp. Khi giá trị cổ phiếu của Honeywell bắt đầu giảm đi, ông TGĐĐH Michael Bonsignore phát biểu với tờ Wall Street Journal vào tháng Sáu 2000: "Tất cả điều này nhằm cũng cố lại niềm tin của các nhà đầu tư."
- Nhưng đó không phải là một vấn đề chỉ riêng cho ông TGĐĐH. Nếu tỉ lệ P-E suy thoái, toàn thể công ty đều bị phê bình. Trước hết, nó không còn khả năng mua lại các công ty khác. Rồi thay vì là một công ty phát triển, nó bắt đầu trở thành mục tiêu để các công ty khác chiếm hữu nếu họ muốn tăng trưởng.
- Các ngân hàng đầu tư cũng có mặt hàng giống hệt như bất kỳ ngành công nghiệp nào, được biết đến là quá trình hợp nhất và liên kết các công ty. Ở ngân hàng đầu tư, trên màn hình ra đa kiểm soát các công ty yếu kém, một công ty có thể bắt đầu xuất hiện. Rồi một công ty khác có tiềm năng sẽ nhận được lời thuyết phục nên mua công ty ấy. Công ty mạnh giờ đây đủ sức mua lại toàn bộ doanh nghiệp và có nhiệm vụ đẩy mạnh công việc kinh doanh của công ty yếu kém.
- Chúng ta thử tham khảo một thí dụ như sau: Vào giữa thập kỷ 90, AMP.Inc, nhà sản xuất thiết bị liên lạc vô tuyến nổi tiếng nhất và lớn nhất thế giới dường như đứng vững trong quá trình tăng trưởng. Công ty này thống trị ngành công nghiệp và bán sản phẩm cho vài ngành công nghiệp đang phát triển khác như bưu chính viễn thông và máy vi tính. Thế nhưng AMP lại mất đi những nguyên lý cơ bản tạo ra lợi nhuận và để cho lãi ròng, mức độ tăng trưởng và tốc độ quay vòng của nó giảm sút nếu so với các đối thủ. Kết quả là tỉ lệ P-E của nó giảm theo. Vào năm 1998, công ty AMP trở thành mục tiêu để AlliedSignal và Tyco dòm ngó để mua lại.
- Cuối cùng Tyco trả gấp hai lần giá cổ phiếu của AMP để sở hữu và bắt đầu điều chỉnh những khó khăn tồn tại bên trong AMP. Tyco mất hết một năm và tốn khoảng 1 tỉ đô trong việc giảm giá, phát triển lãi ròng và tốc độ quay vòng để đưa công ty lại quỹ đạo tăng trưởng. Rồi tỉ lệ P-E và giá cổ phiếu của Tyco cùng tăng lên theo quá trình sát nhập ấy.
- Hẳn chúng ta đều biết chuyện gì diễn ra khi quá trình hợp nhất và liên kết hoạt động. Yếu tố về tài chính khá là gay gắt. Hầu hết khoảng thời gian dùng vào việc điều phối, có nghĩa là công ty bị hợp nhất có thể được kết hợp hay loại bỏ những thứ như nhân đôi phương tiện phân phối, lực lượng bán hàng và phòng tài chính. Công đoạn điều phối thường có khuynh hướng giảm phí tổn mà giảm phí tổn sẽ ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong khoảng thời gian nhất định. Phí tổn về nhân sự luôn rất cao. Điều này làm người hợp nhất vui mừng nhưng những kẻ bị hợp nhất sầu khổ.
- Hãy tìm ra tỉ lệ P-E của công ty bạn là gì và so sánh nó với các đối thủ và tỉ lệ trung bình trong danh mục của S & P 500 và rồi dành một phút để suy tư: Liệu bạn và công ty mình có tập trung vào mức độ tăng trưởng có lợi, nằm trong dự đoán và bền vững, nguồn chu kỳ tiền mặt có đủ khả năng, lãi ròng và tốc độ quay vòng có tăng lên, và như thế lợi nhuận trên tài sản tăng lên hàng quý hay không? Tất cả những yếu tố ấy kết hợp lại có tốt hơn các đối thủ và con số trong danh mục của S & P 500. Nếu thế, bạn không cần phải phòng thủ. Bạn đang đứng ở thế tấn công và tìm kiếm những công ty yếu hơn cần hợp nhất trong cùng ngành công nghiệp. Bạn có thể đang tiếp tục giữ vững mức hoạt động ở hàng đầu và hấp dẫn nhiều nhà đầu tư khác. Rồi bạn sẽ cảm thấy thật thư thái khi mình là một phần của ngành kinh doanh phát đạt.
- Ngược lại, nếu xét trên những nguyên lý cơ bản tạo ra lợi nhuận, liệu công ty bạn có đang chịu đựng tình trạng kinh doanh yếu kém triền miên và không ổn định? Do đó tỉ lệ P-E của công ty bạn có bắt đầu tụt dốc khi so sánh với các đối thủ và danh mục S & P 500 hay không? Liệu ông chủ bạn và những cộng sự của ông ta có đang hoảng loạn? Hay họ cố lẩn tránh thực tế?
- Tỉ lệ P-E của công ty bạn có thể khá cao khi so sánh với các đối thủ nhưng lại quá thấp so với những công ty bên ngoài ngành nghề. Hãy dùng nó như là một dấu hiệu thuộc về giả định: Ngành kinh doanh của bạn đang chiếm một vị trí khá khiêm tốn trong tăng trưởng hay không có tăng trưởng. Hãy nhớ một thí dụ: Wal-Smart đã đưa ra giá trị thị trường to lớn trong cái gọi là thị trường tăng trưởng chậm. Hãy hỏi ban lãnh đạo của bạn hàng loạt các câu hỏi rồi chuẩn bị giúp họ tìm đáp án.
BẢN BÁO CÁO THEO DÕI CỦA GE
- Nào chúng ta cùng nhắc lại mối quan hệ giữa quá trình tạo ra tiền của và tạo ra tài sản. Những TGĐĐH hàng đầu ứng dụng khả năng kinh doanh nhạy bén để đơn giản hóa các vấn đề phức tạp trong công ty, ngành nghề kinh doanh và môi trường kinh doanh rộng lớn hơn. Họ tiếp tục cải thiện những nguyên lý cơ bản tạo ra lợi nhuận và khi làm mức độ tăng trưởng ổn định và không ngừng tăng lên qua thời gian như thế, họ đã sáng tạo ra một bản báo cáo theo dõi. Cộng đồng phân tích đầu tư có khuynh hướng thưởng cho những TGĐĐH như thế và công ty với tỉ lệ P-E cao. Chính điều này đã tạo ra tài sản to lớn cho các cổ đông. Rồi nó đảm bảo việc làm, cơ hội phát triển cho người làm thuê và tài sản cho những người nhận lựa chọn cổ phiếu.
- Có thể xem GE là thí dụ tốt nhất trên thế giới về một công ty có bản báo cáo theo dõi về quá trình tạo ra lợi nhuận đã thúc đẩy tỉ lệ P-E vào tạo ra tài sản cho cổ đông. Nào hãy nhớ lại vào năm 1981, khi Jack Welch trở thành TGĐĐH của GE, Westinghouse và GE là hai đối thủ theo nhau sát nút. Rồi sau đó Westinghouse biến mất và GE giờ đây được xếp vào hàng ngũ các công ty có giá trị nhất trên thế giới. Điều này có nghĩa là nếu bạn lấy tất cả cổ phiếu của GE nhân với giá cổ phiếu, bạn sẽ thấy công ty trị giá 500 tỉ đô vào giữa năm 2000. (trong khi Jack Welch bắt đầu làm TGĐĐH cho GE vào năm 1981, giá thị trường của nó chỉ vào khoảng 12 tỉ đô). Rồi vào năm 1995, tỉ lệ P-E của GE nằm trong khoảng thấp 13 cho đến 19. Tháng Mười Một năm 2000, tỉ lệ ấy là 43_cao hơn nhiều hầu hết các công ty có bất kỳ tầm cỡ to lớn nào.
- GE khổng lồ và phức tạp luôn phải đối mặt với tất cả những đặc tính đa dạng của nền kinh tế toàn cầu_tiền tệ biến động, lãi suất ngân hàng tăng giảm, thế nhưng GE không ngừng tập trung vào những nguyên lý cơ bản để làm ra lợi nhuận.
- Nào chúng ta cùng xem GE đã từng hoạt động như thế nào. Mức tăng trưởng bền vững_tăng trưởng bán hàng ít nhất là 6% một năm (11% vào năm 1999), lãi ròng tăng đều từng năm trong suốt 17 năm, tăng trưởng về lợi nhuận trên cổ phiếu từ 12% cho đến 15%_liên tục tăng từng quý một trong suốt 17 năm. Tốc độ quay vòng hàng tồn kho của GE tăng từ 5,8 vào năm 1995 lên đến 10 vào năm 1999, nhất là GE tạo ra nguồn tiền mặt và lượng tiền mặt quay trở lại phục vụ cho cổ phiếu của nó mỗi năm.
- GE không ngừng tạo ra những kết quả vượt bậc và có những kế hoạch hiện thực và có ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai. Khi các nhà đầu tư thấy sự ổn định qua nhiều năm, họ bắt đầu nghĩ nó sẽ tiếp diễn. Họ tin là GE đã nghĩ ra được một phương thức để tạo ra nhiều lợi nhuận hơn hàng quý, hàng năm.
- Thật vậy, GE chính là cỗ máy tạo ra tiền mặt.
- Tất cả nhân viên của GE đều biết là nếu họ không tiếp tục đóng góp vào quá trình tạo ra tiền của, GE sẽ không còn là nơi để họ làm việc. Vì thế nhận thức được chu kỳ tiền mặt, lợi nhuận trên tài sản, tăng trưởng, dự đoán được quá trình phát triển trong một khoảng thời gian dài và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng_nói tóm lại là khả năng kinh doanh nhạy bén_chính là bản chất của tất cả nhân viên ở công ty ấy. GE là "đầu tàu" trong việc đảm bảo cho toàn bộ nhân viên của mình ở bất kỳ mức độ nào, bao gồm thư ký, những người nhận lựa chọn cổ phiếu trong suốt khoảng đời làm việc trung bình 25 năm có thể trở thành những triệu phú đúng nghĩa.
NHỮNG NỖ LỰC CỦA FORD NHẰM THÚC ĐẨY TỈ LỆ P-E
- Giờ chúng ta cùng khảo sát Ford, một công ty cố ra sức cải thiện hiệu quả tỉ lệ P-E. Tỉ lệ P-E của Ford chỉ vào khoảng 8 nếu so sánh với con số trung bình trong danh mục S & P 500 là 23. Đó là một khoảng cách khá lớn mà TGĐĐH Jac Nasser đang cố hết sức thu nhỏ lại với khả năng kinh doanh nhạy bén của ông ta.
- Mỗi tuần ông Nasser viết một lá thư dài khoảng 1 đến 2 trang giấy đến các nhân viên trình bày những suy nghĩ chân thành của mình về chủ đề kinh doanh. Lá thư này được chuyển qua hộp thư điện tử cho 350.000 nhân viên trên toàn thế giới. Vào đầu năm 2000, khi giá cổ phiếu và tỉ lệ P-E của Ford sụt giảm, Nasser bèn viết lá thư giải thích lý do tại sao và rồi ông ta lên kế hoạch về những lợi thế kinh doanh mà ông ta tin rằng sẽ cải thiện được tỉ lệ P-E.
- Một trong những lợi thế ấy là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Nhìn chung lý luận của ông ta có thể hiểu như sau: Khách hàng chính là người trả tiền cho tất cả các công ty. Thỏa mãn nhu cầu của khách hàng là cải thiện được lãi ròng và tốc độ quay vòng bởi vì sản phẩm của bạn sẽ không tồn đọng quá lâu và khách hàng sẽ mong muốn mua thêm một ít hàng hóa có liên quan đến thương hiệu của bạn. Ngoài ra, xây dựng mối quan hệ với khách hàng cũ để giữ khách sẽ tốn ít phí tổn hơn là phải liên tục lôi kéo khách hàng mới. Vì thế thỏa mãn nhu cầu của khách hàng sẽ thúc đẩy doanh số bán ra và lợi nhuận tăng lên.
- Một lợi thế khác của Ford là dùng một dụng cụ có tên: 6:sigma lôi kéo khách hàng. Đơn giản hơn, 6-sigma là một dụng cụ có thể giúp người ta chẩn đoán nguyên nhân cơ bản gây nên những rắc rối mà có thể ngăn cản Ford hoàn thành mục đích thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Toàn bộ nhân viên của Ford đều được tập huấn để hiểu và ứng dụng nó để xác định những cách thức để cải thiện việc từng trải của khách hàng.
- Lấy thí dụ như việc khách hàng gọi điện. Nếu cuộc gọi không được trả lời ngay trong ba lần reo đầu tiên, khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng. 6-sisma khẳng định rằng trong tổng số 1 triệu cuộc gọi, chỉ có 3 cuộc gọi được trả lời trong ba lần reo đầu tiên. Nó tập trung và quan tâm vào toàn bộ quá trình nhận và trả lời các cuộc gọi điện thoại.
- Cũng với cách tiếp cận ấy được áp dụng cho việc giới thiệu các sản phẩm mới ra thị trường. Nếu điều này được thực hiện hoàn hảo, tốc độ quay vòng, việc tận dụng tài sản và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng sẽ được cải thiện. Một khi khách hàng cảm thấy hài lòng, việc mua hàng được lập đi, lập lại, thúc đẩy tăng trưởng và làm tăng lãi ròng.
- Lợi thế kinh doanh thứ ba của Ford là mở rộng những thương hiệu hàng đầu của mình (Jaguar, Aston, Lincoln, Volvo và Land Rover) trên khắp thế giới và làm phát triển kinh doanh với những thương vụ mới có lợi nhuận.
- Ông Nasser đã chọn những lợi thế kinh doanh mà ông ta nghĩ sẽ thúc đẩy tỉ lệ P-E của Ford. Ông ta thực hiện những quyết định này trên nền tảng của những nguyên lý cơ bản trong kinh doanh_chu kỳ tiền mặt, lãi ròng, tốc độ quay vòng, lợi nhuận trên tài sản, tăng trưởng và khách hàng.
- Có nhiều thứ một nhà chuyên môn ở mức độ trung bình có thể tập trung vào để cải thiện tỉ lệ P-E. Giả sử bạn là một kỹ sư làm việc ở công ty Ford. Bạn có thể vượt qua hội chứng không thể phát minh ở đây? Bằng cách sửa đổi một phần đang tồn tại của nhà cung cấp thay vì tự bạn thiết kế một phần khác, bạn có thể đưa cho nhà cung cấp khối lượng nhiều hơn và cùng trong một khoảng thời gian sẽ làm giảm đi phí tổn phần nào đó cho Ford. Nếu bạn tiết kiệm được 20 triệu đô một năm theo cách thức ấy và bạn không cần phải sắm thêm trang thiết bị cho nhà xưởng, bạn đã tao ra tài sản cho cổ đông. Nếu bạn theo đuổi những giải pháp đại loại như thế hàng năm, tỉ lệ P-E sẽ tăng lên. Liệu điều này trở thành một lợi thế kinh doanh trong phòng ban của bạn như thế nào nhỉ?
- Chuyện gì sẽ xảy ra nếu một nỗ lực liên hợp giữa sản xuất, tiếp thị và đại lý bán xe có thể cắt giảm thời gian khi một chiếc xe rời khỏi nhà máy cho đến khi nó tới được đại lý và tới tay người tiêu dùng? Hãy suy nghĩ thêm mối liên quan chặt chẽ giữa quá trình làm ra lợi nhuận, việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng và tỉ lệ P-E.
- Những cơ hội giúp cho tất cả nhân viên phát triển khả năng kinh doanh nhạy bén của riêng họ. Lưu ý rằng cổ đông không chỉ là những người duy nhất hưởng lợi từ quá trình tạo ra tài sản. Toàn thể nhân viên cũng thế, có thể hưởng lợi từ những cơ hội để kiếm thêm thu nhập, phát triển hơn, và quan trọng nhất là tránh được tình trạng bấp bênh luôn thay đổi từ môi trường xung quanh tác động vào bởi vì công ty yếu kém.
(08) 355 00 040 - (08) 355 00 041 - (08) 355 00 042 - (08) 355 00 194 - (08) 355 00 195 - (08) 355 00 196
(08) 351 58 466 - (08) 355 00 773